trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương và Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam

Sau thắng lợi dồn dập của quân dân ba nước Đông Dương ở Thượng  Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Đông  Bắc Campuchia (1953), chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, cùng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới vì hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, ý chí xâm lược của thực  dân Pháp đã hoàn toàn bị lung lay. Hiệp định đình chiến ở Bàn Môn Điếm được ký kết ngày 27 tháng 7 năm 1953, chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên có tác động mạnh đến tình hình chính trị nước Pháp.

Quốc hội Pháp giao cho Chính phủ Joseph Laniel tìm cách đàm phán trực tiếp với Chính phủ Việt Nam  Dân chủ Cộng hòa. Để đánh tiếng, ngày 12 tháng 11 năm 1953, J.Laniel tuyên bố: “Nếu một giải pháp danh dự xuất hiện trong khung cảnh địa phương hoặc trong khung cảnh quốc tế, nước Pháp sẽ vui lòng chấp nhận một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột”. Ông ta tỏ ý mong muốn được biết lập trường của  Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng con đường chính thức và Pháp sẵn sàng xem xét việc lập lại hòa bình, bảo đảm độc lập cho các quốc gia liên kết.

Ngày 26 tháng 11 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua trả lời phỏng vấn của báo Expressen (Thụy Điển) đã tuyên bố: “Nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó... Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”.

Biết rõ đế quốc Mỹ không tán thành đàm phán, chỉ muốn kéo dài chiến tranh để Mỹ có thời  gian xây dựng,  củng cố và nắm lấy quân đội và chính quyền Bảo Đại, từng bước hất cẳng Pháp, trực tiếp nắm lấy Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “... Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ  Pháp...”.

Trước sức ép của nhân dân Pháp và dư luận thế giới, Hội nghị bộ trưởng ngoại giao bốn cường quốc (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) tại Berlin (Đức) quyết định triệu tập Hội nghị Genève về Đông Dương bất chấp sự phản đối của Ngoại trưởng Mỹ.

Hội nghị Genève khai mạc ngày 08 tháng 5 năm 1954 - một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ - với sự tham gia của đoàn đại biểu Cao Miên, quốc gia Việt Nam (Bảo Đại), Mỹ, Pháp, Lào, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô và Anh (cách ghi của Hội nghị Genève theo thứ tự trong bảng  chữ cái tiếng Pháp). Liên Xô và Anh đồng làm Chủ tịch Hội nghị.

Ngày 10 tháng 5 năm 1954, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đã trình bày lập trường của ta về chấm dứt chiến  tranh trên cơ sở Pháp công nhận chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương và Pháp  phải rút quân về nước.

Phái đoàn Pháp do Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault cầm đầu vẫn mưu đồ tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, chỉ mong muốn tìm kiếm một cuộc ngừng bắn nhằm cứu vãn đạo quân viễn chinh Pháp, hoãn việc thỏa hiệp về chính trị vào thời gian sau.

Hội nghị Genève có nguy cơ thất bại. Dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới và trong nước - nhất là ở Pháp và Sài Gòn - phản đối thái độ thiếu thiện chí của Chính phủ Laniel. Ngày 12 tháng 6 năm 1954, Quốc  hội Pháp bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ Laniel, cử Pierre Mendès France lập Chính phủ mới.

Ngày 19 tháng 6 năm 1954, trong lễ nhậm chức, Mendès France hứa sẽ đạt được ngưng bắn ở Đông Dương chậm nhất là ngày 20 tháng 7 năm 1954, nếu không ông ta sẽ từ chứ


Thời hạn này không chỉ là chuyện nội bộ của chính trường nước Pháp mà còn tác động đến các động thái của các nước tham gia Hội nghị.

Ngay giữa lúc nước Pháp đang lâm vào cuộc khủng hoảng nội các, ngày 16 tháng 6 năm 1954 Chính phủ  Mỹ gây sức ép với Pháp - Bảo Đại để đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng quốc gia Việt Nam thay cho Bửu Lộc nhằm thực hiện chính sách của Mỹ trong giai đoạn sau Hội nghị Genève là loại Pháp ra khỏi Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới theo kiểu Mỹ, chia cắt, thống trị lâu dài Việt Nam bất kể kết quả của Hội nghị như thế nào.

Cho đến ngày 10 tháng 7 năm 1954, Đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn kiên trì lập trường để giải quyết cuộc chiến phải dựa trên cơ sở một giải pháp toàn diện cho cả vấn đề quân sự và chính trị các thỏa hiệp cụ thể phải thể hiện đầy đủ so sánh lực lượng thực tế của các bên trên chiến trường:  đòi phải có đại biểu của hai Chính phủ kháng chiến Lào, Campuchia trên bàn đàm phán; đòi giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam là vĩ tuyến 13; tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam, Lào, Campuchia phải được tiến hành trong thời hạn 36 tháng sau ngày ký Hiệp định; lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia có hai vùng tập kết riêng.

Tuy nhiên, sau cuộc đụng đầu Trung - Mỹ ở Triều Tiên, hai nước Liên Xô - Trung Quốc lựa chọn chính sách  cùng tồn tại hòa bình, thi đua kinh tế hòa bình, làm dịu tình hình quốc tế và đều không muốn Đông Dương trở thành một Triều Tiên mới để bị lôi cuốn vào một cuộc đối đầu nữa với Mỹ.

Cuối cùng, với xu thế chung của những nước lớn trong tình hình quốc tế lúc đó, sau 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp riêng đầy căng thẳng, các bên đã đồng ý về những nội dung cơ bản như sau: các nước tham gia Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cao Miên, không can thiệp vào nội bộ của các nước này; ngừng bắn trên toàn bộ chiến trường Đông Dương; Pháp rút quân; vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân đội; sau 2 năm sẽ có tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước Việt Nam.

Ở Lào, lực lượng kháng chiến có hai khu tập kết tại Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Cao Miên, lực lượng kháng  chiến không có khu tập kết mà phục viên tại chỗ.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết giữa Thứ trưởng  Bộ Quốc phòng Tạ Quang  Bửu (thay mặt Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Thiếu tướng Delteil (thay mặt Tổng Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông  Dương) vào lúc 3 giờ 30 sáng ngày 21 tháng 7 năm 19541. Hội nghị thông qua Bản Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954, với sự tham gia của đại biểu 8 nước (trừ Mỹ). Phái đoàn Mỹ không tham gia vào bản tuyên bố của Hội nghị và ra một  bản Tuyên bố riêng.

Giải pháp Genève chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường, chưa đáp ứng được các yêu cầu chính trị của giải pháp do đoàn Việt Nam đề ra, chưa phản ánh đúng thắng lợi cuộc kháng chiến  của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Tuy vậy, Hiệp định này đã chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương, đẩy được quân Pháp ra khỏi Việt Nam, phá được âm mưu kéo dài chiến  tranh của Mỹ, nâng cao được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, giải phóng được miền Bắc, giúp miền Bắc có điều kiện hòa bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước sau này. Với Hiệp định Genève, tuy thắng lợi chưa thật trọn vẹn nhưng phản ánh tương quan lực lượng của hai phe và là thắng lợi to lớn mà nhân dân ta giành được sau chín năm kháng chiến gian khổ và anh  hùng.

Đảng ta đã trước sau đánh giá đúng mức thắng lợi của Hiệp định Genève năm 1954: “Việc lập lại hòa bình  ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc Việt Nam, và đặt cơ sở cho việc thống nhất nước Việt Nam  là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta... Nó phản ánh tình hình lực lượng so sánh ở Đông Dương và trên  thế giới lúc bấy giờ”.

Thủ tướng Pháp Mendès France cũng đã phải công nhận thế thua của quân đội Pháp qua Hiệp định Genève  1954 trong bản điều trần của ông trước Quốc hội Pháp ngày 22 tháng 7 năm 1954: “Tôi muốn đừng ai có ảo tưởng về nội dung những thỏa thuận vừa được ký kết ở Genève. Văn bản có chỗ tàn nhẫn bởi vì nó ghi nhận những sự kiện tàn nhẫn. Nó không thể diễn đạt khác hơn”.

Nhà sử học Jean Le Lacouture nhận xét về bản điều trần của Mendès France: “Ông nêu lên những điểm chỉ rõ các điều khoản của Hiệp định Genève, không được phép xem như một thắng lợi quốc gia của Pháp và ông chỉ làm một việc nhắc lại rằng: những điều khoản ấy đơn giản là những hệ quả ít tệ hại nhất có thể có, được rút ra từ một tình thế tệ hại mọi mặt”.

Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, ngày 22 tháng 7 năm 1954 Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Bắc Bộ ngừng bắn từ 8 giờ ngày 27 tháng 7 năm  1954, Trung Bộ ngừng bắn từ 8 giờ ngày 01 tháng 8 năm 1954, Nam Bộ ngừng bắn từ 8 giờ sáng ngày 11 tháng 8 năm 1954).

Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, lập lại Xứ uỷ Nam Bộ và các Khu uỷ.

Uỷ viên Bộ Chính trị Lê Duẩn đang công tác ở vùng tự do Liên Khu 5 (Trung Trung Bộ) được Trung ương cử vào miền Nam để phổ biến các chủ trương mới của Trung ương và chỉ đạo những công việc trong giai đoạn mới. Đặc biệt, đồng chí nhấn mạnh một  số việc cần làm khẩn trương trước khi chuyển quân tập kết:

1. Cấp đất cho nông dân đến sát đồn bót địch, coi đó là “lá bùa hộ mệnh” cho cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động sau này.

2. Cảnh giác trước việc địch phá hoại ngưng bắn, bố trí một số cán bộ quân sự ở lại miền Nam, chôn giấu một số súng đạn để tự vệ khi địch đàn áp khủng bố.

3. Chăm lo một cách chu đáo các quyền lợi của người dân để thể hiện tấm lòng của Đảng đối với nhân dân (trong đó có việc đổi giấy bạc Cụ Hồ ra tiền Ngân hàng Đông Dương theo tỷ giá có lợi cho dân).

Sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại cán bộ đảng viên

Tháng 10 năm  1954, tại Chắc Băng, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Bạc Liêu, Trưởng phái đoàn Trung  ương  Lê Duẩn triệu  tập  hội nghị  để nghiên cứu  Nghị quyết  Hội nghị  Trung  ương lần thứ sáu (khóa  II), Chỉ thị ngày 06 tháng 9 năm  1954 của Bộ Chính trị, thảo  luận  những nhiệm vụ của Nam Bộ trong  giai đoạn mới, thành lập Xứ uỷ Nam Bộ.

Xứ uỷ Nam Bộ gồm 12 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết, do Lê Duẩn làm Bí thư.

Xứ uỷ quyết  định  chia Nam Bộ thành 3 Liên tỉnh  (miền Đông, miền  Trung và miền  Tây) và 1 Khu (khu Sài Gòn - Chợ Lớn).

Miền Đông  Nam  Bộ gồm 6 tỉnh  (Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Gia Định,  Tây Ninh, Chợ Lớn) do Phan  Đức làm Bí thư Liên tỉnh  uỷ (khi đó, Phan  Đức ra miền  Bắc chữa  bệnh, Mai Chí Thọ thay).

Miền Trung Nam Bộ gồm 9 tỉnh (Tân An, Mỹ Tho, Sa Đéc, Bến Tre, Gò Công, Long Xuyên, Châu  Đốc, Kiến Phong, Kiến Tường) do Nguyễn  Minh  Đường làm Bí thư Liên tỉnh  uỷ.

Miền Tây Nam Bộ gồm 7 tỉnh (Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Rạch Giá, Hà Tiên) do Phạm Thái Bường làm Bí thư Liên tỉnh  uỷ.

Khu Sài Gòn - Chợ Lớn do Nguyễn  Văn Cúc (Nguyễn  Văn Linh) làm Bí thư Khu uỷ. Toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Nam Bộ rút vào hoạt động bí mật, những người bị lộ được  điều  lắng hoặc  chuyển sang  địa phương khác,  hoặc  tạm  thời  ngưng  công  tác. Một số cán  bộ, đảng  viên được  đưa  vào hoạt  động  trong  các tổ chức  hợp  pháp (tổ chức quần chúng, tổ chức nghề  nghiệp) và cả trong  tổ chức của địch. Cuộc chiến  đấu bước vào giai đoạn mới...

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: