trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Những ngày đáng nhớ tại khu tập kết Đồng Tháp Mười và thị trấn Cao Lãnh năm 1954

Khu tập  kết Đồng  Tháp  Mười, trung tâm  là thị trấn  Cao Lãnh,  một  trong  ba khu tập kết chuyển quân của Quân  đội Nhân dân Việt Nam ở Nam Bộ theo  quy định  tại điều

15 của Hiệp  định  Genève  được  ký kết giữa chính phủ  Việt Nam  Dân  chủ  Cộng hòa với chính phủ  Cộng hòa Pháp  ngày 20 tháng 7 năm  1954.

Thời gian  theo  ấn định  cho  khu  tập  kết Đồng  Tháp  Mười là 100 ngày (tính  từ ngày ký Hiệp  định  20 tháng 7 đến  30 tháng 10 năm  1954), tuy ngắn  ngủi  nhưng ở đây đã diễn  ra nhiều sự kiện quan trọng,  nhiều việc làm và những kỷ niệm  sâu sắc của cán bộ chiến  sĩ và nhân dân  ta được ghi nhận.

Thời khắc đầu tiên, sau khi có Hiệp định  Genève  và lệnh ngừng  bắn có hiệu lực (ở Nam Bộ bắt  đầu  từ 8 giờ ngày 11 tháng 8 năm  1954), thực  thi Hiệp  định,  một  Uỷ ban  hỗn  hợp Liên hiệp  Pháp  và Quân  đội Nhân dân  Việt Nam khu Đồng Tháp  Mười đến  Sa Đéc để bàn định  việc rút quân đội Liên hiệp Pháp  ra khỏi khu tập kết Đồng Tháp Mười và thị trấn  Cao Lãnh để Quân  đội Nhân dân  Việt Nam vào tiếp quản. Ngày 12, 13 tháng 8 năm  1954, quân đội Liên hiệp  Pháp  kể cả quân đội giáo phái  Cao Đài, Hòa Hảo rút khỏi Đồng Tháp  Mười và Cao Lãnh bằng  tàu hải quân của Pháp.  Ngày 15, 16 bộ đội ta vào tiếp quản quận lỵ Cao Lãnh, đồng  bào vui mừng  treo  cờ đỏ sao vàng, đứng  hai bên  bờ kinh,  rạch,  vỉa hè, đường phố,  tụ tập trước công sở chào  đón  bộ đội. Chiều  16 tháng 8 ta tổ chức một  cuộc mít-tinh lớn có 15.000 người trong  thị trấn  và vùng xung quanh tới dự. Tiếp theo  những ngày sau đó đến cuối tháng 8, các đơn vị bộ đội trong  tỉnh  đang  đóng  quân ở ngoài khu tập kết như Châu  Thành, Lai Vung, Hồng  Ngự và một  số tỉnh  xung quanh từ Lộc Ninh,  Tây Ninh,  Tân An, Mỹ Tho đều khẩn trương sắp xếp tập trung về Đồng Tháp Mười và thị trấn Cao Lãnh. Có trên  một vạn rưỡi cán bộ chiến  sĩ ta và trên  hai vạn thân nhân, nhân dân  cũng dồn  về Cao Lãnh thăm viếng, uỷ lạo và tiễn đưa bộ đội xuống tàu di chuyển ra Vũng Tàu để ra miền Bắc.

Chuyến tàu đầu tiên rời bến bắc Cao Lãnh thuộc làng Tân Tịch vào lúc 5 giờ chiều  ngày 6 tháng 10 năm  1954, chuyến cuối cùng là vào 12 giờ trưa ngày 29 tháng 10 năm  1954. Tổng số người đi tập kết từ bến  bắc Cao Lãnh có khoảng 13.508, trong  đó tỉnh  Long Châu  Sa có 2.563 người.

Trong những ngày ở khu tập kết Đồng Tháp  Mười và thị trấn  Cao Lãnh, cán bộ, bộ đội ta vừa được học tập chủ trương  nhiệm vụ mới, sắp xếp tổ chức, vừa thực hiện  tốt công tác dân vận, tu sửa xây dựng một số công trình kinh tế văn hóa xã hội có ý nghĩa lịch sử đã được nêu rõ trong bản “Báo cáo của đại diện chính quyền và Quân đội Nhân dân Việt Nam” trình bày trong  dịp giao lãnh  việc hành chánh trong  vùng  Cao Lãnh  và “Biên bản  về việc giao chính quyền thị trấn  Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh cho Quân  đội Liên hiệp Pháp  tiếp quản trong thời gian Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết ra miền  Bắc theo Hiệp định  Genève”.

Nội dung  biên  bản  được phái  đoàn hai bên  cùng  xác nhận và chuyển giao có hai phần. Phần  riêng cho thị trấn  Cao Lãnh gồm một số điểm  chính trị về bàn giao tài sản công cộng như  sau:

“... 1. Nhà thương trước kia chỉ là trạm cấp cứu, nhưng không hoạt động, nay đã trở thành một  nhà  thương lớn có bác sĩ và nhiều y tá phụ  trách, có nhiều nhân dân  đi đến  trị bệnh đông đảo. Mặc dù đã có sự cố gắng xây dựng của Quân đội Nhân dân Việt Nam nhưng bệnh nhân vẫn còn thiếu chỗ nằm, nên  tới đây cần được xây dựng  và phát triển  thêm.

2. Các trường  học mặc dù quân đội Liên hiệp Pháp  giao lại cho Quân  đội Nhân dân Việt Nam trong  thời gian nghỉ hè, nhưng do nguyện vọng của học sinh và phụ  huynh học sinh, nên  chính phủ  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cố gắng mở lớp cho học sinh được tiếp tục học tập  rất đông  đảo.  Trước tình  hình mỗi ngày một  đông,  tới đây cần  được  xây dựng  và mở rộng thêm.

3. Nhà máy đèn  và nước tuy thiếu dụng  cụ, nhưng Quân  đội Nhân dân  Việt Nam  đã cố gắng  tu sửa, nên  máy  đèn  vẫn chạy  theo  mức  bình  thường và có cố gắng  thêm được  16 bóng  đèn  ở các đường  lớn, nên  ánh  sáng có nhiều hơn trước.

4. Công sở Mỹ Trà và nhà  thương có sơn phết lại và tu bổ sạch  sẽ hơn  trước,  các công sở khác đều toàn  vẹn đầy đủ.

Ngoài ra Quân  đội Nhân dân  Việt Nam còn xây dựng  thêm:

Đài Chiến sĩ trận vong (trên  đài có mấy chữ “Tổ quốc ghi công”, “Quân  dân chánh Long Châu  Sa lập”).

Dựng lên 11 bản  trích  lục những điều  đã ký kết trong  Hiệp định  đình  chiến  Genève.

Đường sá và các cầu từ bến  bắc đến  Cao Lãnh được sửa lại và xe hơi chạy được.

Vệ sinh trong thành phố được cải tiến và bảo vệ sạch sẽ hơn trước, dưới sông không còn cầu tiêu.  Tuy vậy vẫn chưa  được  hoàn thành vì chỉ trong  thời gian ngắn,  nên  tới đây cần phải  kiến thiết  thêm nữa.

Một số nhà  của  nhân dân  trước  kia dùng  làm công  sở, đồn  bót,  hôm  nay vì hòa  bình, do yêu cầu của nhân dân và do Hiệp định  Genève  điều 15 khoản D có ghi rõ việc tôn trọng tài sản và tính  mạng của nhân dân,  nên  Quân  đội Nhân dân  Việt Nam  đã trao  trả lại cho nguyên chủ như  sau:

Lầu Mười Chuyển, nhà  thầy  thuốc Lư và hai dãy phố  Sáu Thanh (một  dãy ngang  nhà đèn, một dãy ở Kinh Thầy Cừ) và căn phố của phòng thông tin cũ. Nói chung nhà của nhân dân  trước  đây dùng  làm công sở đã trả lại cho nhân dân  theo  đúng  những điều  khoản đã quy định  trong  Hiệp định  Genève.

Các đình  chùa  như  đình  Hòa An trước  kia dùng  làm công  sở đồn  bót,  nay vì tôn  trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân  nên  cũng  đã được trao trả lại cho nhân dân  để thờ cúng.

Phần  chung cho vùng Cao Lãnh, bản  báo  cáo của chính quyền và Quân  đội Nhân dân Việt Nam đã nêu  “tóm tắt lại các công việc mà chính phủ  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xây dựng  trong  chín  năm  kháng  chiến  như  sau:

“... 1. Trước hết về mặt kinh tế: “... Trước đây chín năm nhân dân làm lụng khổ cực, nhưng mức  sống  rất thấp, có trên  50% dân  số quanh năm  thiếu ăn, thiếu mặc.  Ngoài ra còn  bị nhiều bệnh truyền nhiễm sát hại như dịch tả, trái giống, nạn cờ bạc, trộm cướp lung tung...

- Từ 9 năm  nay dưới chính quyền dân chủ nhân dân, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã săn sóc đến  đời sống của toàn  thể nhân dân,  đã đem  đất công điền,  công thổ, đất quốc  gia và đất cưỡng chiếm cấp cho 23.000 anh  em nông  dân  nghèo với trên  23.000 mẫu. Ngoài ra, chính phủ  đã tạm  giao 70.000 mẫu  cho 35.000 nông  dân,  giúp đỡ vốn liếng, lúa giống và thành lập những tập  đoàn nông  nghiệp cho nên  việc làm ăn của họ rất dễ dàng và đời sống được cải thiện. Nhân dân lại được khuyến khích và tự do khai mở ruộng hoang cày cấy làm ăn sinh sống. Họ được quyền làm chủ những phần đất họ đã có công khai thác. Tô tức đã giảm rất nhiều. Chính  phủ  đã điều  hòa  quyền lợi của chủ  và tá, nên  mức tô đã giảm xuống,  ít lắm là 25%. Nạn cho vay nặng  lãi cũng  giảm rất nhiều.

- Về thuỷ lợi, nhân dân đã được khuyến khích đào đìa, vét đìa để bắt cá và đến nay chính phủ  đã tạm  cấp trên  50% số đìa bàu  do anh  em có công đào vét trên  đất quốc  gia.

Nhờ có chính sách  điền  địa đúng  đắn  của  chính phủ,  nên  nhân dân  đã hăng  hái sản xuất làm cho mức tăng gia trội hơn năm  1945 trên 100%. Hiện nay toàn  thể nhân dân trong huyện được no ấm, không  còn đói rét như trước. Bần cố nông  chiếm 30% dân số trước kia, nay số cố nông  chỉ còn 2%.

- Về mặt  công  thương nghiệp, dưới  chính quyền dân  chủ  nhân dân,  nhân dân  trong huyện được tự do kinh doanh về công thương nghiệp và luôn luôn được chính phủ  hướng dẫn  giúp đỡ dễ dàng  ngày càng phát triển  thêm...

2. Về chính trị: Sau Cách  mạng Tháng  Tám thành công,  chế độ Dân  chủ  Cộng hòa  đã thực hiện ngày càng chu đáo. Từ trong tận Đồng Tháp Mười bùn lầy nước đọng, muỗi mòng đến ven sông Cửu Long, đồng bào được tự do đi lại để lo việc làm ăn sinh sống. Họ được tự do ứng cử, bầu  cử vào Hội đồng  nhân dân  xã và xây dựng  một  chính quyền dân  chủ nhân dân  của dân,  do dân  và vì dân  để đảm  bảo an ninh, trật tự cho họ. Họ lại được tự do phát biểu  ý kiến trong  các cuộc  hội nghị  họp  ấp, họp  xóm...,  đóng  góp ý kiến xây dựng  chính  sách chủ trương. Họ cũng  được phê  phán chính quyền để giúp bộ máy chính quyền càng ngày càng tiến bộ hơn.  Tự do tín ngưỡng luôn  luôn  được tôn trọng  và mỗi người tùy theo trình độ, tùy theo  sự tín ngưỡng của mình đều được tự do thờ cúng.

Đình chùa,  nhà thờ, thánh thất được tự do hoạt động và mỗi nơi, xã có hướng dẫn thành lập Ban tế tự hoặc  Ban cai quản để lo việc cúng  kiếng hợp với thời kỳ kháng  chiến.

Tài sản, tính  mạng của mỗi người được tôn trọng.

3. “Về văn hóa  - giáo dục  - xã hội. Lúc đầu  kháng  chiến, số người  mù  chữ chiếm trên 90% tổng số nhân dân.  Nghèo  lại dốt nên  đời sống rất kham  khổ, có nhiều nơi tỷ lệ bần  cố nông  chiếm tới 40%, 50%, họ sống một đời lầm than, vất vả. Trong 9 năm  qua, trường  học mọc  lên như  nấm, khắp  mọi nơi, đâu  đâu  cũng  có tiếng  ê a và đến  năm  1949 thì nạn  mù chữ được tiêu diệt. Hiện nay số người dốt chỉ còn lối 5%...

Từ khi Quân  đội Nhân dân  Việt Nam  tập  kết trong  khu  vực Đồng  Tháp  Mười, trường học, nhà  thương, trạm  cứu thương lại mở thêm. Toàn huyện nay có 7 nhà  bảo sanh  và 70 trường  học do nhân dân  xây dựng  lên.

Y tế vệ sinh  rất mở mang, đồng  bào  được  giáo dục  kỹ về các phương pháp vệ sinh,  ăn uống sạch sẽ, nhà cửa cao ráo, cầu tiêu hố tiêu vệ sinh... Tin tức báo chí rất nhiều... ở xã có phòng thông tin... Nạn cờ bạc, đĩ thõa,  rượu chè bê bết thì đã chấm dứt. Trộm cướp, đánh lộn, chửi lộn cũng  không  còn.  Đồng  bào  được  thong thả  làm ăn trật  tự, vui vẻ. Ban đêm khỏi đóng  cửa mà tính  mạng, tài sản luôn  luôn  được bảo đảm...”.

Kết luận bản báo cáo nhấn mạnh thành quả đạt được trong chín năm kháng chiến và sau 100 ngày tập kết ở vùng Cao Lãnh và thị trấn  Cao Lãnh, đồng  thời nêu  ra yêu cầu, phương hướng  trong  thời gian sắp tới để thực hiện đúng  tinh thần Hiệp định  Genève. Với quân đội Liên hiệp  Pháp... “cố gắng tiếp  tục các công  việc đã làm để nhân dân  được  một  đời sống tự do, an ninh trật tự”... “với toàn  thể đồng  bào trong  khu vực tập kết Đồng Tháp Mười tin tưởng  sẽ hăng  hái và tích cực thi hành Hiệp định  đình  chiến  để kiến lập hòa bình, độc lập và thống nhất trên  toàn  vẹn lãnh  thổ của nước Việt Nam”.

Biên bản  và báo cáo được phái  đoàn hai bên  ký xác nhận tại công sở làng Mỹ Trà sáng ngày 28 tháng 10 năm  1954.

Phái đoàn Quân  đội Nhân dân  Việt Nam có:

- Thiếu  tá Nguyễn  Văn Tam (trưởng).

- Đại úy Trần Văn Quang  (uỷ viên).

- Thiếu tá Nguyễn  Văn Thọ (đại diện quân sự tỉnh Long Châu Sa) và một số chuyên viên.

Phái đoàn quân đội Liên hiệp  Pháp  có:

- Đại úy Buzzo (trưởng).

- Trung  úy Dolland (uỷ viên).

- Trung  úy Thuỷ (đại diện  quân sự khu Sa Đéc) và một  số chuyên viên.

Chứng  kiến  cuộc  giao lãnh  lịch sử này có sự thỏa  thuận của  phái  đoàn Liên hợp  số 2 Đồng Tháp  Mười. Phái đoàn Việt Minh tại Cao Lãnh tổ chức cuộc mít-tinh tập hợp chừng 5.000 dân  chúng và các cán bộ chiến  sĩ Quân  đội Nhân dân  Việt Nam ngay buổi  trưa ngày 28 tháng 10 năm  1954 ở trước nhà  việc Mỹ Trà để phái đoàn Quốc tế (gồm 5 sĩ quan thuộc Uỷ hội Quốc  tế kiểm soát  đình  chiến) và một  số nhân viên của Tiểu ban  hỗn  hợp  Phụng Hiệp đến  và ra trình diện  trước công chúng được mọi người hoan hô nhiệt liệt.

Các bài diễn văn của ông Nguyễn  Văn Thọ - thiếu tá Quân  đội Nhân dân Việt Nam, diễn văn của ông Buzzo - trưởng  phái đoàn Quốc tế, đặc biệt là bài của ông Phạm Hùng - trưởng phái  đoàn Việt Minh  được dân  chúng hoan hô vang dội.

Trước đó vào sáng 21 tháng 10 năm  1954, Uỷ ban Lâm thời thị trấn  Cao Lãnh của ta làm lễ khánh thành “Đài Chiến sĩ trận vong” rất long trọng.  Ngoài ra bộ đội ta còn tổ chức trang hoàng lại đẹp đẽ ngôi mộ của cụ Nguyễn  Sinh Sắc thân sinh của Bác Hồ, nơi đây mỗi ngày đều có một  số đông  đồng  bào đến  viếng.

Ngày 25 và 26 tháng 10 năm  1954, bộ đội khu tập  kết Đồng  Tháp  Mười và Ban Quân  - Dân  - Chánh tỉnh  Long Châu  Sa tổ chức  một  cuộc  liên hoan lớn tại thị trấn  Cao Lãnh để cán bộ chiến  sĩ ta gặp gỡ thăm hỏi, tạm  biệt người thân và đồng  bào  trước  khi lên đường tập kết ra miền  Bắc. Chương  trình liên hoan phong phú,  lại được bộ đội và đoàn văn công trình diễn sinh động,  hấp dẫn nhất là các trò chơi dân gian như múa  võ, múa  lân, thả vòng vịt, đấu bóng  tròn,  bóng  chuyền. Tối lại có diễn  kịch, văn nghệ,  “chớp  bóng”...  Dân chúng tán thưởng, tham gia rất đông.

Nhiều  sự kiện quan trọng  và tình  cảm  đầy xúc động  diễn  ra trong  những ngày tập  kết được ghi lại, phản ánh  thời điểm  lịch sử kết thúc  thắng lợi cuộc  kháng  chiến  chống Pháp trên  địa bàn  tỉnh  nhà.

Phát huy truyền thống anh hùng của quê hương, từ ngày giải phóng thống nhất đất nước đến  nay, nhiều công trình kinh tế, văn hóa,  xã hội, trong  đó có nhiều di tích, danh nhân, địa danh lịch sử xưa và trong  100 ngày tập kết do cán bộ, bộ đội và nhân dân  ta tạo dựng nên  ở Cao Lãnh  đã được  trùng tu, tôn  tạo,  xây dựng  mới to đẹp  đàng  hoàng như:  Nghĩa trang  Liệt sĩ Tỉnh,  Khu Di tích  Mộ cụ Phó bảng  Nguyễn  Sinh Sắc, các chùa,  nhà  thờ, các trường  học, bệnh viện, nhà  văn hóa,  trụ sở cơ quan các cấp, nhiều nhất là nhà  máy, công ty, xí nghiệp, ngân  hàng,  nhà hàng,  khách sạn, chợ... với nhiều kiểu dáng đa dạng. Còn nhà dân  thì hầu  hết đã được sửa chữa,  nâng  cấp, nhiều khu dân  cư, phố  lầu cao tầng  cũng  đã được xây dựng  cả ở nội và ngoại  thành.


Bến bắc Cao Lãnh và con đường từ cầu Đúc ra bến dài gần 5km, nơi bộ đội ta hành quân xuống tàu tập kết ra miền  Bắc nay không  còn vắng vẻ lèo tèo như cách nay 60 năm, mà đã trở thành đường  phố  Phạm Hữu  Lầu thuộc phường 4 và phường 6 thành phố  Cao Lãnh. Phà Cao Lãnh  đông  vui, tàu  xe qua  lại tấp  nập.  Cách  phà  chưa  tới 100m, trường  Đại học Đồng Tháp được xây dựng khang  trang.  Dưới bến bắc vài trăm  mét, cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền nối liền các huyện phía  Bắc với các huyện phía  Nam của tỉnh  và thông suốt  với cả miền  Tây Nam Bộ, tạo cơ sở thuận lợi để Đồng Tháp đẩy mạnh phát triển  kinh tế xã hội thực hiện  công nghiệp hóa - hiện  đại hóa.

Ngô Xuân Tư

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: