trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Bầu trời ôm trọn quê hương

AHLLVT, Đại tá Nguyễn Văn Bảy

Tôi tham gia cách mạng khi còn nhỏ  mới 15 tuổi, thân hình thì ốm nhách, đen nhẻm, rất tình cờ và cũng không nghĩ là mình đã làm cách mạng. Vùng này ban ngày chúng quản lý, ban đêm là của cách mạng. Mấy chú Việt Minh toàn người địa phương thường ghé nhà  nói chuyện nên  cũng thích,  có cảm tình  chớ lúc ấy thiệt  tình  mà nói tôi chưa biết giác ngộ hay yêu nước  là gì. Do có người quen cùng  làng là lính trong  đồn  địch,  mấy chú mấy bác cách mạng kêu tôi nắm  tình  hình trong  bót Bà Hà (rạch  Bà Hà) ra sao rồi về báo. Tôi thường chống xuồng chở chúng đi bắn  chim  trong  đồng  rồi tình  cờ hỏi chúng, sau đó về kể cặn kẽ cho mấy chú.

Đình  chiến  1954, không  khí nhộn nhịp, thấy mấy chú  mặc  quần áo bộ đội mang súng, khoái quá, vả lại gia đình bắt cưới vợ tôi không muốn, bây giờ có cơ hội tôi trốn nhà đi theo, nhập vào Trung  đội địa phương của huyện Lai Vung.

 Do không  có tên  trong  danh sách  ở Trung đội nên  không  có sanh  hoạt  phí, quân trang.  Đâu có sao! Tôi đã đem  theo  hai cái áo bà ba và hai cái quần cụt đủ thay. Còn ăn uống  thì... ăn chực. Buổi sáng tôi thường xuống sông mò cá, mò ốc, bắt chuột. Mà những thứ nấy hồi đó ở đâu  cũng  sẵn và “tay nghề”  tôi hơi cao. Xuống sông một hồi là có hơn nửa thau cá, ốc đem lên góp vào bếp ăn đơn vị, cơm thì ăn ké. Kéo dài cả tháng, đơn  vị mới kêu anh  Ba tôi đang  công  tác ở xã đội tới hỏi: Có cho thằng Bảy đi không? Thấy em muốn đi quá, biết không  cản được, anh tôi đành gật đầu và sau đó tôi mới có tiêu chuẩn chính thức trong  đơn vị, được phát súng,  phát quần áo...

Vào đơn vị ai làm gì tôi làm nấy: tối đi canh gác theo  ca trực, ra Long Hậu tuyên truyền chiến  thắng Điện  Biên Phủ.  Tháng  7 năm  1954 đơn  vị được  lệnh  qua  Cao Lãnh chờ ngày đi tập  kết. Cả trung đội Lai Vung có 30 người  hành quân về Hòa An thì xã tôi có 5 người đi là các anh: Mười Huệ, Bảy Tỉnh, Màng, Trần và tôi. Khi tới Cao Lãnh tôi mới viết thơ về báo  tin cho gia đình  biết.  Sau đó má tôi qua  thăm trước  khi tôi đi vài ngày. Đi tập  kết thì tôi khoái  rồi. Ra Bắc cho biết Hà Nội. Còn kỷ niệm  sâu sắc nhất ở Cao Lãnh tôi nhớ,  đó là hầu  như  đơn vị nào trước khi đi cũng ghé thắp nhang mộ cụ Phó bảng  Nguyễn  Sanh Huy. Lúc đầu các đơn vị tới viếng mộ cụ, sau khi thắp nhang thường nhổ  cỏ, vệ sinh quanh khu mộ nên  sau đó xung quanh khu vực mộ thường rất sạch  sẽ, chẳng còn cỏ rác mà dọn  mà nhổ  nên  tới chỉ thắp nhang. Tuy không  nói  ra nhưng trong  thâm tâm  ai cũng  nghĩ  một điều  quan trọng  nhất: Ra Bắc gặp Bác sẽ thưa  với Bác, chúng con đã thay Người thắp nén nhang cho Người thân sinh  để Bác cũng  ấm lòng hơn.  Thế mà sau này tôi may mắn  hơn các anh  em khác, rất nhiều lần được gặp Bác mà khi gặp chỉ lo nhìn Bác, xem Bác có khỏe không  để Bác hỏi gì trả lời nấy, chẳng còn nhớ gì việc thưa  với Bác điều này. Về cứ tấm tức trong  bụng  hoài.

Khoảng 9-10 giờ đêm tháng 10 năm 1954, chúng tôi hành quân xuống bến bắc Cao Lãnh. Đi chuyến này rất đông,  chúng tôi phải  đứng  ngồi dưới tàu  suốt  từ Cao Lãnh  ra tới Cấp- săng-rắc vào khoảng 6 giờ sáng  hôm  sau  được  chuyển qua  tàu  Ba Lan. Xuống tới tàu  Ba Lan thì thoải  mái, ăn uống,  chỗ nằm  đàng  hoàng. Con tàu quá  lớn, dù người đông  nhưng vẫn nhẹ  bâng  với trọng  tải con tàu. Cả tuần lênh  đênh trên  biển  vì chuyến đi gặp bão lớn. Anh em toàn  dân  đồng  bằng,  có ai đi đâu  mà biết tới biển  nên  hầu  hết bị say sóng tơi tả, ăn rất ít. Trước khi đi, mấy mẹ, mấy cô có cho bánh tổ đem  theo  (nếp  xay nhuyễn, nhào nặn  bằng  cái tô, bỏ đường  hấp,  phơi  khô ăn giống  bánh phồng, ăn phải  xắt từng  miếng nhỏ)  mà có ăn nổi đâu.

Ra tới Bắc đơn  vị di chuyển từ Thanh Hóa,  về Thái Bình,  Nam  Định,  sau  đó về đóng quân ở Xuân Mai, Hà Tây. Chúng  tôi thuộc lính bộ binh. Ở đây một  thời gian thì một  bữa có đoàn bác sĩ của Bộ Quốc phòng tới khám  sức khỏe để tuyển phi công. Cả hai sư đoàn ở miền  Nam ra và mấy sư đoàn của miền  Bắc khám  họ chỉ tuyển được ba người trong  đó có tôi. Trong ba người thì có một anh kiểm tra lần cuối cũng không  đạt. Cuối cùng chỉ còn tôi và anh Trần Triêm quê ở Hồng Ngự trúng tuyển (năm 1966 anh đánh nhau bị địch bắn hạ, hy sinh).  Tôi cũng  chưa  bao  giờ nghĩ  mình lại quá  may mắn  như  vậy. Cả mười  vạn người chứ có ít đâu  mà cũng  trúng tuyển được.  Đây là trúng về sức khỏe,  về dáng  vóc thôi  chớ nếu  nói về văn hóa  thì chắc  tôi bị rớt ngay vòng đầu  bởi tôi mới học xong lớp 3, chưa  tốt nghiệp tiểu  học.  Có lẽ quân đội cũng  ưu tiên  dân  miền  Nam  chớ hầu  hết  lính toàn  nông dân rồi vào bộ đội, học hành cũng nhiều người “nghêu ngao” như tôi cả. Nghĩ lại cũng mắc cười, nghe  như  chuyện tiếu lâm, nói ra chưa  chắc  ai tin. Đi xe máy bây giờ trên  100 phân khối phải thi bằng lái, học lớp 3 như tôi, đi thi chắc bị rớt cái ạch chứ đừng nói học lái máy bay! Ấy thế mà cũng  xong.

Lúc ấy ở ngoài Bắc chương trình học văn hóa có 10 năm. Tức cười, thầy giáo hướng  dẫn cấp tốc 7 ngày 7 lớp, mỗi ngày học một lớp để kịp qua Liên Xô học lý thuyết và thực hành.

Lúc đi qua  cửa khẩu,  Phái  đoàn Uỷ ban  Quốc  tế kiểm  soát  rất chặt  (đặc  biệt  qua  Trung Quốc,  qua  Lào và Campuchia họ ít để ý). Chúng  tôi phải  giả là công  nhân qua  học nghề. Học lý thuyết thì khó hơn học lái. Tôi phải biết tại sao máy bay bay được, làm quen với lực nâng,  lực kéo, lực cản...  Lúc đầu  học bay máy bay thể thao,  sau mới học máy bay Yak-52, MiG 15, MiG 17. Mỗi máy bay chiến  đấu thường chỉ một người lái. Bay lộn nhào chiến  đấu hay biểu diễn  dễ hơn rất nhiều so với bay thẳng từ sân bay này tới sân bay kia vì phải  tính vận tốc bay, vận tốc gió để hạ cánh được đúng  sân bay.

Ngày 05 tháng 4 năm  1965, sau  ba năm  học  thành thạo  máy  bay chiến  đấu,  tôi trở về Việt Nam. Lúc này Mỹ đang  ném  bom  dữ dội ở miền  Bắc. Ở dưới đất nghe  bom  Mỹ bỏ ầm ầm  xuống  gần sân  bay cũng  hơi ngán,  chỉ sợ mình chết  không  được  về Nam.  Nhưng  khi tôi đã cất cánh bay lên trời thì chẳng còn biết sợ là gì nữa,  chỉ suy tính  nhanh lẹ để tránh hỏa lực địch, tận dụng  sơ hở của chúng để bắn hạ chúng bởi thường khi chúng tôi bay lên, gặp máy bay địch  rất đông  và hiện  đại hơn  nhiều lần, lúc nào  cũng  muốn “ăn tươi, nuốt sống”  máy  bay của  ta. Lúc ấy chúng tôi rất thích  bài hát  Phi đội ta xuất  kích  do Nghệ  sĩ Nhân dân  Tường Vi sáng  tác và ca sĩ Bích Việt hát,  nó đi vào lòng người và thật  đúng  với tâm  trạng  anh  em phi công:

Yên sao được miền Nam đang kêu gọi/Thúc  giục ta vươn lên lập chiến công Miền Nam ơi! Vì quê hương chắc tay lái trong tay/Nhằm thẳng  lũ cướp nước xông tới/ Mẹ hiền ơi! Tổ quốc ơi!/Con hiến dâng Người cả trái tim  này

Phi đội ta xuất  kích, ra đi là mang chiến thắng  trở về.

Thế rồi chúng ta đã chiến  thắng giòn giã. Gần như  mỗi lần cất cánh là bắn  hạ một  máy bay của Mỹ, có khi hai ba chiếc.

Rộn ràng tung  cánh bay phi đội ta xuất  kích/Đại bàng vút cao trên trời mây

Trận đầu ta đã mang chiến thắng/DângTổ quốc mẹ hiền mến  yêu...

Tôi đã trực tiếp bắn  rơi 4 máy bay, không  kể cùng  đồng  đội bắn  hạ hơn chục  chiếc nữa thì được phong Anh hùng  Lực lượng vũ trang  nhân dân Việt Nam. Cứ mỗi lần bắn rơi được một  máy bay, Bác đều  gởi quà  tặng  cho phi công.  Tới khi anh  em bắn  máy bay rơi nhiều quá,  hết  đồ kỷ niệm,  Bác kêu Văn phòng Trung  ương  làm huy hiệu  để Bác tặng.  Mỗi lần Bác xuống thăm đơn vị hay được lên thăm Bác, anh em đeo hết trên ngực, nhìn là biết ngay đã bắn  được bao nhiêu máy bay để Bác thưởng thêm. Ngoài số huy hiệu,  Bác còn tặng tôi một  chiếc  đồng  hồ Poljot của Liên Xô, mặt  sau bằng  vàng 18K, dây da do Đảng  Cộng sản Liên Xô tặng Bác nhân kỷ niệm  50 năm  thành lập Đảng Cộng sản Liên Xô. Bắn rơi thêm 3 máy bay nữa thì Bác chỉ đạo không  cho tôi được bay chiến  đấu, mà cho tôi ở dưới sân bay huấn luyện lớp trẻ. Lúc ấy tôi cũng suy nghĩ, bứt rứt nhưng chưa hiểu, tại sao đang hạ máy bay “rụng  ngon  lành”  như  vậy mà phải  ngồi dưới đất.  Chiến  tranh đang  lúc “dầu  sôi, lửa bỏng”,  nếu không  có máy bay ta chặn đánh thì không  biết còn bao nhiêu nhà máy, trường học, những thành phố, xóm làng miền  Bắc bị phá hoại tan hoang. Sau này mới biết Bác sợ tôi hy sinh,  không  về giải phóng miền  Nam,  tôi càng  xúc động,  yêu quí Bác vô cùng.  Tôi có may mắn  hơn nhiều anh  em đi tập kết bởi được gặp Bác nhiều. Bác rất ưu ái phi công, gần gũi như  cha con, hay xuống  thăm đơn  vị và chúng tôi cũng  thường được Bác cho vào thăm. Còn nữa,  Bác có trí nhớ  rất tốt.  Chỉ mới gặp một  lần, Bác hỏi tên.  Thế mà  những lần sau gặp, Bác hỏi tôi cháu  Bảy ở Sa Đéc, chỉ anh  Mẫn nói cháu  Mẫn ở Bến Tre có khỏe không,  chiến  đấu tiến bộ chứ... Bác ơi, sao Bác lại không  chờ được ngày thống nhất để con lái máy bay chở Bác vào thăm mộ đấng  sinh thành...

Một kỷ niệm  rất sâu sắc trong cuộc đời, có lẽ tới chết không bao giờ tôi quên được trong những ngày Bác mất.  Đó là tôi được  vinh  dự bồng  súng  đứng  sau  linh  cữu Bác (15 phút thay ca), sau đó trực tiếp bay và chỉ huy 12 chiếc máy bay bay qua Quảng  trường  Ba Đình vĩnh biệt, đưa tiễn  Bác. Trong đau  thương, nước  mắt  nghẹn ngào,  tôi cố bình  tĩnh  để làm tròn  nhiệm vụ được giao, cùng  đồng  đội không  được để sơ xuất gì dù nhỏ  và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Bắn rơi 7 máy  bay, tôi được  xếp vào cấp  “Ách”. Trước  khi nghỉ  hưu  tôi đã được  giao nhiều chức  vụ quan trọng:  Trung  đoàn trưởng  Trung  đoàn không  quân 937, Phó Tư lệnh Sư đoàn 372, Phó Tham  mưu  trưởng  Quân  chủng Không quân Việt Nam. Là đại biểu Quốc hội khóa III, nửa khóa IV tới giải phóng. Năm 1975, giải phóng miền  Nam, thống nhất đất nước tôi được giao tiếp quản sân bay Cần Thơ và tham gia điều hành các sân bay Tân Sơn Nhất,  Biên Hòa và làm nhiệm vụ tại Campuchia.

Giờ đây tôi đã được trở về quê hương  Đồng Tháp sống một cuộc sống điền viên bên gia đình.  Thời gian  trôi đi nhanh quá.  Mới đó mà  đã sáu  mươi  năm  từ khi chúng tôi ra Bắc. Cám ơn Đảng, cám ơn Bác đã nâng  bước cho tôi được chiến  đấu bảo vệ bầu trời miền  Bắc và chiến  thắng vẻ vang kẻ thù, góp phần cho thắng lợi sau cùng - Đại thắng Mùa Xuân năm 1975.

Và chúng tôi đã RA ĐI VINH QUANG đúng  như  lời hứa trước khi xuống tàu tập kết.

Anh hùng LLVT, Đại tá Nguyễn Văn Bảy (Phạm Thị Toán thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: