trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Cao Lãnh ngày ấy

Tháng 9 năm 1945, Tiểu đoàn 306 chúng tôi được lệnh tập trung về Cao Lãnh để chuẩn bị xuống tàu của Pháp  tập kết ra Bắc theo Hiệp định  Genève. Cao Lãnh ngày ấy đã là một  thị trấn  khá trù phú  nằm  sâu trong  vùng tạm  chiếm. Trước khi đến  đây, chúng tôi được  học  tập  kỹ công  tác tôn  giáo vận, kỷ luật  dân  vận trong  vùng  tạm  chiếm. Quen sống trong nông thôn, giữa lòng dân vùng ta, gắn bó với dân như cá với nước, nay đến đóng quân trong  vùng địch hậu  đô thị, “lạ cái, lạ nước”,  cấp trên  e ngại anh  em sơ sẩy, nên  dặn đi dặn  lại rất kĩ từ việc nhỏ,  có điểm  hơi cực đoan, như  không  được nhận thứ gì của dân.

Chúng  tôi đóng  quân trong  một  xóm xum xuê cây trái gần bến  bắc,  nghiêng mình soi bóng  dừa  xuống  dòng  sông  Tiền nước  xanh  leo lẻo. Tuy nằm  giáp thị trấn,  xóm này vẫn mang dáng  dấp  nông  thôn với những nếp  nhà  lá nho  nhỏ  xen kẽ một  vài nhà  ngói, giữa những mảnh vườn rợp bóng dừa, chuối, ổi, cam... chằng chịt kênh mương và đường  ngang ngõ tắt qua các cây cầu khỉ bằng  thân dừa hoặc  cầu tre lắt lẻo. Có điều làm chúng tôi thấy lạ là nhà  nào cũng vắng tanh, vắng ngắt, chỉ lác đác vài ông bà già, người đứng tuổi với trẻ con,  còn  thanh niên  nam,  nữ thì hầu  như  vắng bóng.  Nhà  nào  cũng  tuềnh toàng, trống trước,  hở sau,  bàn  ghế sơ sài, bàn  thờ chẳng thấy  hương, khói, đồ thờ thưa  thớt,  chuồng heo, chuồng gà trống  trơn.

Văn phòng tiểu đoàn ở một  nhà  ngói ba gian vách ván giữa một  khu vườn dừa, ổi, xoài khá rộng gần bờ sông lộng gió. Nhà vắng hoe, chỉ thấy bà má độ lục tuần lủi thủi một mình dưới gian bếp sau nhà.  Má rất kiệm lời, hỏi đâu, nói đó, vẻ rụt rè, ngờ vực. Toàn đơn vị bắt tay ngay vào việc sắp xếp trật tự, dọn  dẹp  vệ sinh,  quét  tước trong  nhà,  ngoài  ngõ, đào hố vệ sinh,  sửa chữa,  gia cố cầu khỉ. Xong rồi là tỏa đi thăm già, hỏi trẻ trong  nhà  cũng  như các nhà  lân cận  không  đóng  quân, cắt tóc và tắm  rửa cho  các em.  Thái độ kính  già, yêu trẻ, lễ phép, đúng  đắn của bộ đội dần dần xóa sự nghi ngại, e dè của bà con mấy ngày đầu.

Khoảng  ba hôm  sau, nhận lệnh  xuống các đại đội nắm  tình  hình trú quân (lúc ấy tôi là trợ lý tác chiến  tiểu đoàn), tôi tạt vào một  túp  nhà  lá hơi tách  biệt ở đầu  xóm để tìm hiểu xem bộ đội có làm phiền bà con hay không? Một em bé trần  truồng thấy tôi bước vào nhà liền khóc ré lên chạy đến  ôm chân chị chủ nhà.  Chị cười, dỗ: “Chú bộ đội chớ không  phải lính đâu  cưng, đừng  sợ”. Rồi chị quay sang phân bua  với tôi: “Tụi lính vô xóm hay nạt nộ, hạch  sách nên  mấy đứa nhỏ  sợ lắm cậu à.” Tôi cho em vài viên kẹo, vỗ về em, rồi tiếp tục trò chuyện với chị. Tôi mang mấy điều thấy lạ ban đầu hỏi chị. Chị cười lớn: “Cậu biết hôn, trước khi mấy  cậu đến khoảng 10 ngày, họ cho xe đi hô loa khắp  đầu  làng cuối xóm: Ai có tiền bạc, vàng vòng thì cất giấu kỹ kẻo Việt Minh  về cướp hết, có heo, gà thì bán đi, không thôi Việt Minh  bắt ăn thịt  hết, con gái trẻ đẹp di tản đi, không  nó bắt hãm hiếp hết. Họ cứ loa như vậy trong vòng mấy ngày liền, ai mà không  sợ. Nghe đồn cách mạng tốt lắm, nhưng lính  thì lính  nào mà hổng phá phách.  Cho nên cậu thấy xóm  làng vắng hoe là vậy đó”. Thì ra là vậy, Chị nói tiếp: “Bây giờ thì bà con biết rồi. Lính Việt Minh hiền khô, ăn nói lễ phép, lại giỏi, làm gì cũng gọn gàng, sạch sẽ, ai cũng khen.  Hồi nãy tôi đi chợ, nghe  người ta đồn rùm  việc chú Vý bán  chạp  phô  (tạp hóa) thử coi Việt Minh có tốt thiệt  hôn.  Hôm đầu, chú thối tiền dư một  đồng,  bộ đội trả lại liền. Bữa sau, chú thối thử dư năm  đồng,  bộ đội cũng trả lại. Tối hôm  qua, chú thối dư hai mươi đồng,  bộ đội bỏ túi đi luôn.  Chú nghĩ: Dư ít, nó trả, dư nhiều, nó lấy luôn,  chưa  phải  tốt đâu.  Sáng hôm  sau, bộ đội ra trả tờ giấy hai mươi đồng  dư tối qua. Chú cứ khoe cùng  chợ “bộ đội Việt Minh tốt thiệt”.  Từ giã chị tôi về nhà, vừa bước tới cửa nghe tiếng một bà hàng xóm nói to dưới bếp: “Không phải đâu chị ơi. Nhà tôi toàn  lính ở, vậy mà mấy cây cam sau nhà  đó, chín vàng, có mất trái nào đâu. Mắc cười, hồi sáng có một chú ra đái ở gốc cam, đụng  đầu rụng một trái, chị biết nó làm sao hôn? Nó lấy dây chuối buộc  trái cam lên cây. Tôi xách ra mấy cái thúng, kêu tụi nó ra hái, hái xong biểu  ăn, không  đứa nào chịu ăn. May quá,  có mấy chú chỉ huy Bắc Kỳ nói trọ trẹ: “Chúng con là bộ đội Cụ Hồ”, đi ngang  qua sân. Tôi kêu biểu  chú ấy cho anh  em ăn, chú còn nói: “Để má đi chợ bán”.  Tôi nổi nóng: “Biểu ăn thì cứ ăn chớ bán bán cái gì”. Chú chỉ huy mới biểu mấy đứa nhỏ  ăn đó chớ. Bộ đội gì mà dễ dạy quá hổng  biết”! Chị thấy hôn? Con cháu mình hồi ở nhà  dễ biểu,  dễ dạy vầy mà đi lính rồi thì phá  làng, phá  xóm như  quỷ sứ phá nhà  chay, chớ đâu  dễ thương như  bộ đội Việt Minh  này.”

Nghỉ trưa dậy, tôi lấy cái áo cũ rách  lưng định  vá lại. Bỗng nghe  sau lưng một  giọng nữ thanh thanh: “Anh đưa áo em vá cho, em có máy may trong này nè”. Tôi quay lại, thấy cánh cửa buồng đóng im ỉm mấy hôm rày mở toang toác, một cánh tay trắng nõn nà khoát  chiếc rèm  cửa, giơ ra chờ đợi. Tôi bước tới đưa chiếc  áo và buột miệng:  “Nhờ chị vá giùm”.  Vậy là có “cô gái... ngủ trong  buồng” cách  phản mình nằm  có vài bước mà không  biết! Chiều, ra sông tắm  xong, tôi về thấy chiếc  áo đã vá tinh  tươm,  xếp để trên  ba lô của tôi. Bước ra sau, tôi thấy một  cô gái độ 16 - 17 tuổi, tóc thề ngang  vai, nước da trắng  hồng,  khuôn mặt thanh tú, đang ngồi ăn cơm với má. Đoán  đó là “người vá áo”, tôi bước tới cảm ơn. Má Hai giới thiệu:  “Con Sáu, gái út của  má  đó con”  (Má mới “má  má,  con  con”  với chúng tôi từ chiều  qua).  Tối đến,  chúng tôi tập trung các em nhỏ  ra bờ sông tập múa,  hát, tôi đệm  kèn ácmônica (khẩu  cầm).  Sáu cũng  ra theo,  tập  hát,  giọng Sáu trong,  thanh, hát  đúng  nhạc, khá hay. Sáng hôm  sau,  Sáu nhờ  tôi chép  cho em một  số bài hát  để em học thuộc trước. Tôi lấy lời bài hát để giải thích  về lòng yêu nước  và lý tưởng  cách  mạng. Sáu lắng nghe  và khi tôi đọc mất  câu thơ của Tố Hữu:

“Hỡi những người trai quý, gái yêu ơi! Bâng khuâng đứng trước đôi dòng nước Chọn một  dòng, hay để nước trôi?”

Sáu trầm  ngâm và nói khẽ: “Em sẽ đi theo  con đường  của mấy anh”.  Sáu thường hỏi và tỏ vẻ hiểu  những gì tôi giải thích...

Mấy hôm  sau, chúng tôi được lệnh  tập  trung ra bến  bắc để xuống  tàu  trung chuyển ra Vũng Tàu lên tàu  lớn ra Bắc. Bà con trong  xóm kéo ra rất đông  tiễn  chúng tôi. Sáu và chị Năm em “di tản” sang Sa Đéc, má nhắn về vài hôm  nay, cũng ra theo.  Khi có lệnh  tập hợp đội hình, Sáu nhét vội vào tay tôi một phong thư, dặn nhỏ: “Để xuống tàu rồi đọc”. Chúng tôi giơ hai ngón  tay hứa hẹn hai năm  sau tổng tuyển cử xong sẽ trở về, để tạm biệt bà con. Bà con cũng giơ hai ngón  tay vẫy chào tiễn chúng tôi. Đứng vào hàng  quân, tôi ngoảnh lại, thấy  hai chị em Năm,  Sáu vẫy vẫy khăn  tay, rồi lau nước  mắt.  Bức thư chỉ vài dòng  ngắn gọn: “Chúc mấy anh  ra Bắc mạnh khỏe, tụi em sẽ đơi mấy anh  về.”

Sau này, tôi được  biết,  trong  thời kháng  chiến  chống Mỹ, cái vùng địch  hậu  sâu đó đã thay da đổi thịt, đa số bà con hướng về cách mạng, một số đông thoát ly kháng  chiến, trong đó có Năm và Sáu. Vậy là, chỉ trong  thời gian rất ngắn  cách mạng về đây, đã gieo vào lòng bà con  những gì như  những mầm non  đã nhanh chóng đâm  chồi  nảy lộc, đơm  hoa,  kết trái, đến  nay vẫn tiếp tục cho những vụ mùa  bội thu,  hoa thơm, trái ngọt.

Đại tá Võ Thành Kiết (Thanh Khiết)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: