trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Chuyện bây giờ mới kể

Tôi tên  khai sinh  là Hồ Văn Bông, sinh  ngày 31.12.1930 tại Sa Đéc (nay là thành phố Sa Đéc, tỉnh  Đồng Tháp).  Năm 18 tuổi, tôi gia nhập Vệ quốc  đoàn.

Đầu năm  1954, tôi vinh dự được đồng  chí Nguyễn  Văn Như (Tư Văn), lúc bấy giờ là Tỉnh đội phó,  tham mưu  trưởng  Tỉnh đội Long Châu  Sa, cho cùng  đi với Bộ Chỉ huy Tỉnh đội lên chiến  khu Dương Minh Châu  dự Hội nghị về “Miền Nam phối  hợp với Trung ương quyết  đánh thắng chiến  dịch Điện Biên Phủ”. Cuộc Hội nghị này do Quân  uỷ Trung  ương mà đại diện  là đồng  chí Phạm Hùng  triệu  tập.  Hội nghị  có mặt  đủ đại điện  các Tỉnh đội, các lực lượng vũ trang  miền  Trung và miền  Đông Nam Bộ, từ Long Châu Sa trở ra cho đến Khu 6 là Bình Thuận lúc bấy giờ.

Đồng chí Trần Văn Trà mà chúng tôi thân mật gọi là anh Tư Chi, đã thân mật mời Đoàn Đồng  Tháp  Mười, Long Châu  Sa một  bữa cơm trưa.  Anh đã nói đùa  vui “cá tràu  câu dưới suối không  béo bằng  cá Đồng Tháp  Mười”, và tôi cứ ghi nhớ  một  ấn tượng  sâu sắc là anh em cảnh vệ đã đập  tơi đất  gò mối và tráng  nền  nhà  cho cái lán của anh  Tư Chi láng trơn sạch sẽ, còn hơn đã tráng  bằng  ciment.

Từ tháng 2 đến tháng 5 năm  1954, Long Châu Sa tích cực phối hợp chiến  dịch Điện Biên Phủ,  có một  trận  công đồn  không  thành công, nhưng cũng  gỡ được vài lô cốt trên  đường phía  Bắc tỉnh,  đường  nối liền Sài Gòn và Pnôm Pênh.

Lúc bấy giờ, đồng  chí Đặng  Văn Thông,  cho tôi học lớp trinh sát đặc công Đồng  Tháp, đặt ở vùng hoang vắng thuộc con kênh  Bảy Bông, giữa Mỹ An và Gãy Cờ Đen. Tôi theo  học lớp này cùng  với đồng  chí Dây và đồng  chí Võ Văn Mừng...  Đồng  chí Dây cùng  anh  hùng Ngôm  và anh  Bảy Hoàng, công binh  của Bộ Tư lệnh  Khu 8 đã đánh sập cây cầu Bến Lức.

Đồng chí Võ Văn Mừng thì phá  banh một  ca nông  105 ly của Pháp  đặt ở cồn Trọi.

Tôi theo  đại đội đặc công của Long Châu  Sa đi đánh lô cốt, lúc bấy giờ lô cốt làm cạnh bờ lộ, cài dây thép gai sơ sài, ta gỡ dây thép thì áp trái nổ dễ dàng. Tôi cũng áp trái nổ xong, đợi chờ cho  nổ. Tuổi hai mươi,  hành quân mệt  mỏi,  tôi ngủ  và ngáy pho  pho.  Đồng  chí Bùi Ngọc Thuỵ, đại đội trưởng  tới vỗ vai tôi, kéo dậy và bảo: “Đã bảo rồi, văn hay chữ tốt thì phải  ở văn phòng thôi...”.

Phối hợp chiến  dịch Điện Biên, các anh giao cho tôi nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ Tổng Tư lệnh,  mỗi tiếng  đồng  hồ thì phải  báo  cáo vấn đề chuyển quân cấp đại đội của địch  về Bộ Tổng Tham  mưu.  Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ này. Đến tháng 5 năm  1954, tôi bị ho ra máu  nên  đã không  đi học quân sự ở nước ngoài như  các anh  chỉ huy đã hoạch định  và tôi vẫn ở tại Văn phòng Ban Tham  mưu  Tỉnh đội.

Tôi còn nhớ có một chuyện vui trong khoảng thời gian đó, không biết do đâu mà có một chiếc  máy bay đầm  già hiệu  Morane của Pháp  rơi xuống  đìa Bảy Mươi gần Dứt Gò Suông trong  Gò Sa Rài. Có đứa cháu  của chị Năm Thuyền chơi cắt cớ, lấy dao rạch cái áo của tên phi công, móc vào một chiếc cần câu vác đi lủng lẳng khắp Dứt Gò Suông, ai nấy cười ngất, nhưng Văn phòng Ban Tham  mưu  Tỉnh  đội còn  cất giữ cái Huân chương Chiến  công  để trao tặng cho quân dân  Sa Rài mà không  biết trao cho ai.

Thời điểm  tập  kết chuyển quân tại Cao Lãnh,  tôi được  Tỉnh  đội giao cho  làm tiểu  đội trưởng  một  tiểu đội du kích thoát ly của thị xã Sa Đéc, huyện Châu  Thành và Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng,  Lai Vung, Lấp Vò cùng  với Chợ Mới... tôi còn nhớ  lúc bấy giờ trong  tiểu đội có Nguyễn  Văn Bảy, sau này là anh hùng  phi công (Anh hùng  Lực lượng Vũ trang  Nhân dân)  đã bắn  rơi 7 máy bay Mỹ, góp phần bảo vệ bầu  trời miền  Bắc thân yêu.

Chuẩn bị chuyển quân, trừ một vài bộ phận miền  Đông xuống, vì không ra kịp 80 ngày ở bến Hàm Tân - Xuyên Mộc, phải tổng huy động lo cơm áo gạo tiền cho ít ra cũng trên quân số của các Tiểu đoàn 309 (Mỹ Tho), 311 (Long Châu  Sa) và dân  quân du kích thoát ly của các huyện Châu  Thành, Lai Vung, Lấp Vò, thị xã Sa Đéc, Phong Mỹ, Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, thị xã Cao Lãnh, Mỹ Hội, Mỹ Hiệp và Mỹ Long (giáp với Mỹ Tho). Bấy giờ, Thanh Bình thuộc An Giang, Hồng Ngự thuộc Châu  Đốc.

Lúc bấy giờ, tôi túc trực văn phòng Ban Tham  mưu  Tỉnh đội cùng  với các anh  Tư Long, Hai Phối, Lê Xuân Lựu, Nguyễn  Như Văn... Đêm,  ngày anh  chị em lo mua  mỡ bò bôi trơn đủ các loại súng  tốt nhất, chủ yếu chọn loại súng  trường  bá đỏ của Nga và loại “mút”  của Đức. Kế đó là cạc bin của Chi đội Hải ngoại. Anh chị em còn cất công tháo  lắp cây ca nông của chiếc D.27 mà ta đã bắn  chìm  ở Sở Thượng  năm  1949. Bộ Tư lệnh  Khu 8 có mời cả kỹ sư Nhâm, làm bánh xe đặc chủng cho cây pháo này, nó là loại đặc biệt vì nòng của nó có 76 ly (thông thường pháo 75 ly...), tất nhiên anh chị em phải phân công nhau cất giấu, giữ gìn.

Cuối tháng 10 năm  1954, tôi xuống  tàu  há mồm của Pháp,  chuyến cuối cùng  cùng  với các anh Lê Xuân Lựu, Bảy Nguyễn Tấu, Lê Văn Chấp và các anh trong Văn phòng Ban Tham mưu  Tỉnh đội, anh  Tư Long gởi hai cháu,  anh  Hai Phối cũng vậy (Anh Tư Long sau này có tên  mật  là Hai Sang, là thành viên trong  Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định  và bị giặc sát hại sau đợt tổng  tiến  công  Xuân Mậu Thân  của ta năm  1968, anh  Hai Phối cũng  hy sinh  vẻ vang năm  1968, trong  một  chuyến công  tác từ Bến Tre qua  Trà Vinh). Riêng anh  Nguyễn  Như Văn (Tư Văn), không  đi vì đại diện  bộ đội ta làm việc với Uỷ hội quốc  tế. Ấn tượng  tôi ghi nhớ nhất là Văn phòng Tỉnh uỷ, Tỉnh đội như  một  cơ quan. Anh Tư Long, Bí thư, trực tiếp huy động  các mẹ, các chị đêm  ngày giã gạo chày ba... để mỗi cán bộ, chiến  sĩ của ta ít ra cũng  phải  mang đầy hai ruột  tượng  gạo và người  nào  cũng  lủng  lẳng quàng cổ cái khăn rằn và vài đòn  bánh tét...

Khi ra tới Sầm Sơn, Thanh Hoá, lực lượng vũ trang  của ta phiên chế tạm  thời với phiên hiệu  Trung  đoàn 658 Long Châu  Sa, quân số là 2.563 người.  Các bộ phận có lúc đóng  rải rác từ Tiền Hải, Thái Bình đến Ba Vì, Xuân Mai, Hoà Bình... Tôi còn nhớ có lúc đóng  quân ở một  lán trại trên  một  khu  đồi trọc  thường bị sét đánh, phải  làm nhiều cột thu  lôi, còn khí hậu  thì nóng  bức ghê gớm, một  ngọn  gió Lào quét  qua  là những con  thằn thằn, rắn mối,  tắc kè trên  nóc  lán  rơi xuống  đất  lộp độp...  nói  chung là rất  kham  khổ.  Sau đó, tôi học Trường Âm nhạc Việt Nam, học xong, được giữ lại trường  giảng dạy và được cử đi học ở Nhạc  viện Tchaikovski-Kiev. Tôi chỉ được đào tạo chuyên ngành nghiên cứu lý luận  âm nhạc, nhưng tôi rất mê sáng tác, không  viết thì ăn ngủ không  yên, như  là một  cách  để trả món  nợ thiêng liêng cho cuộc đời.

Năm 1968, tôi đang  trên  đường  về Nam thì đợt tổng tiến công của quân ta ở miền  Nam vào Tết Mậu thân năm  1968 diễn  ra và tôi may mắn  cũng  có góp phần vào đợt tiến  công này qua  Đài và Văn công Giải phóng. Một số các anh  đã đi tập  kết như  anh  Lê Xuân Lựu, sư đoàn trưởng  Sư đoàn 5 Quân Giải phóng miền Nam,  anh Nguyễn  Như Văn cũng có mặt, lúc đó được gọi là các đồng  chí hồi kết...

Nhạc sĩ - Nhà thơ Hồ Bông

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: