trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Chuyến đi cho ngày trở về

Tháng 7 năm  1954, Hiệp định Genève được ký kết, thế là cuộc kháng chiến  chống thực dân  Pháp  xâm lược lần thứ hai của nhân dân  Việt Nam đã kết thúc.  Hiệp định  được ký kết, nhưng miền  Nam  vẫn do chính quyền tay sai bù  nhìn kiểm  soát.  Theo  nội dung  hiệp  định,  bộ đội chúng tôi phải  chuyển quân tập kết ra Bắc, hai năm  sau đó sẽ tiến hành hiệp  thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà.

Chấp  hành mệnh lệnh  của cấp trên,  tôi đành phải  rời xa căn cứ cách mạng Bời Lời, nơi mà tôi đã sống, chiến  đấu cùng đồng bào, đồng chí và những người thương yêu từ buổi đầu tòng  quân giết giặc năm  1947. Căn cứ địa Bời Lời thuộc ấp Bời Lời, xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, là căn cứ địa của Uỷ ban Kháng chiến  Hành chính huyện Trảng Bàng, đây cũng là nơi đồn trú của các cơ quan, đơn vị, đoàn thể và lực lượng vũ trang huyện, trong  đó có Đại đội 2794 của tôi.

Suốt cả một đêm trước ngày chuyển quân tôi thức trắng,  hình ảnh của những người anh em, đồng  chí, đồng  đội đã ngã xuống  trong  những trận  chiến  đấu  ác liệt, hình ảnh  chiếc áo bà ba nâu,  những ngóc  ngách của khu rừng  chiến  địa, từng  căn  hầm  bí mật,  từng  bãi chông, hang  đá, gốc cây cứ vây lấy tôi, cứ xâm chiếm hết  tâm  trí tôi. Nhớ thương là vậy, nhưng tôi tự nhủ,  phải  nén  lòng ra đi cho ngày về thống nhất.

Chuyến lên đường...

Một tuần sau ngày Hiệp định  Genève  được ký kết, chúng tôi bắt đầu chuyến hành quân về khu tập kết tạm thời để chuẩn bị tập kết ra Bắc. Khi đơn vị chúng tôi vượt sông Vàm Cỏ Đông  để xuống  Vàm Cỏ Tây, đến  đường  số I (quốc  lộ 22 ngày nay), một  chiếc  xe Jeep từ hướng  Trảng  Bàng chạy tới và dừng  lại bên  lề đường.  Từ trên  xe một  thanh niên  cao lớn, trắng  trẻo bước xuống,  đi nhanh đến chỗ tôi và đồng  chí N, nói: “Anh em mình mỗi người một lý tưởng, thôi thì mạnh ai theo lý tưởng của người đó. Nhưng  tôi thành thật mà nói với các anh  là: hai năm  sau sẽ không  có chuyến trở về đâu!”. Người đó là Q.V, sĩ quan cao cấp trong  quân đội Cao Đài, anh  em chú  bác  ruột  của  đồng  chí N. Nghe  rõ từng  lời một  của Q.V, nhưng trong  tôi không  hề có một  chút  gì nao núng  hay dao động,  không  có một  chút gì hoài nghi vào ngày trở về, tôi vẫn vững tin nước nhà  rồi đây sẽ hòa bình, thống nhất, dù khó khăn,  gian khổ nhưng nhất định  chúng tôi sẽ trở về. Đáp lại những lời nói của y là thái độ thờ ơ, lạnh  lùng và cái nhìn đầy khinh  bỉ của chúng tôi. Tôi thấy thật  đáng  thương hại cho một đứa con nhầm đường  lạc lối, một tên tướng Cao Đài đang chìm  sâu trong  cơn mê muội.  Với y, việc lập quân đội riêng,  ôm chân thực  dân  Pháp  chống lại cách  mạng, phản bội lại Tổ quốc,  đi ngược lại nguyện vọng và lợi ích của đồng  bào lại là “lý tưởng”!

Sau cuộc giáp mặt ngắn ngủi đó, chúng tôi tiếp tục hành quân, một chuyến ra đi cho ngày trở về toàn  thắng. Đoàn  đến  khu vực nhà  thờ Công giáo Tha La (xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh  Tây Ninh),  rất nhiều đồng  bào  có đạo  và không  có đạo  đứng  ở hai bên  đường tiễn chân bộ đội. Nhìn vóc dáng  trắng  trẻo, to lớn của tôi, một  giáo dân  nói với theo  bằng chất  giọng miền  Bắc đặc sệt: “Nghe nói Việt Minh ốm o lắm, lông lá đầy người, nhưng bây giờ tôi mới thấy Việt Minh  cũng  trẻ, khỏe  và đẹp  trai đấy chứ!”. Tôi đứng  khựng  lại, nhìn chị cười to và đáp rành rọt: “Thực dân  Pháp  và bọn  tay sai chỉ giỏi lừa mị bà con thôi, chứ bộ đội Việt Minh ai cũng khỏe như voi, chị không  thấy thằng Pháp  to lớn như vậy mà cũng phải  chào  thua đó sao?”. Mọi người cười ran, chị cũng  cười và không  nói gì nữa.

Sau một  thời gian tạm  đóng  quân ở sông  Vàm Cỏ Tây, chúng tôi được  lệnh  chuyển về Cao Lãnh, một thị trấn  nhỏ của tỉnh Long Châu Sa lúc bấy giờ, nay là thành phố Cao Lãnh, tỉnh  Đồng  Tháp.  Ghe vừa cập  bến,  rất đông  bà con  thị trấn  Cao Lãnh  đứng  sẵn  chờ đón đoàn. Thái độ niềm  nở, nồng  hậu, thân tình của đồng bào nơi đây làm những con người từ phương xa đến như chúng tôi cảm thấy thật ấm áp, gần gũi như thể đây là nhà của mình vậy.

Bữa cơm chiều  hôm  ấy diễn  ra trong  khu nhà  đối diện  bến  đò, vốn trước  đây là trụ sở của cảnh sát ngụy1.  Ở sân trước  ngôi nhà,  trên  nền  xi-măng hằn  lên một  mảng xám hình người,  hỏi ra mới biết  đó là dấu  tích của một  chiến  sĩ du kích bị địch  bắt,  sau những lần tra tấn  dã man  mà không  khai thác  được gì, chúng đã trói dạng  chân tay đồng  chí ra giữa sân,  trong  tư thế ngửa  người,  cho xe lu cán dẹp  rồi dùng  xăng đốt xác. Được nghe  tận  tai về cái chết  của  người  cộng  sản  kiên  trung, ai ai trong  chúng tôi cũng  tuôn trào  lửa hận, ai cũng  phẫn nộ tột cùng  trước  những hành động  man  rợ của kẻ thù,  cùng  với đó là lòng cảm  phục, tiếc thương cho  người  du kích anh  hùng,  người  chiến  sĩ kiên trung của mảnh đất Tháp  Mười, của miền  Nam bất khuất.

1   Theo lời kể của các nhân chứng lịch sử trong quyển Hồi ký này, đây là khu nhà thầy thuốc Lư, cạnh Dinh quận, nay thuộc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Đồng Tháp (BBT).


Để đảm  bảo nhu  cầu ăn ở, ngay trong tối hôm  ấy, chúng tôi được lệnh di tản về các làng xung quanh thị trấn  Cao Lãnh trú quân. Đi được hơn 30 phút, trời bắt đầu đổ mưa, đường tối đen, trơn trượt, đoàn người phải nối gót nhau mà đi, người sau vịn vào ba lô người trước để không bị té ngã, lạc đường. Càng khốn khó bao nhiêu, chúng tôi càng thấy rõ nghĩa nặng, tình  thâm của đồng  bào Cao Lãnh bấy nhiêu, bà con không  quản ngại gian khổ, cùng  đội mưa,  đạp  bùn  thắp đuốc  dẫn  đường  cho bộ đội hành quân. Sau khi vượt đoạn đường  gần 3km, ngang  qua chợ Long Hồi, đơn vị tôi đến  được khu vực của xã Tịnh Thới ngày nay rồi đóng  quân tại đó. Đến 9 giờ đêm,  khi nơi ăn, chốn ở của bộ đội đã đâu  vào đó thì bà con lại phải ngược mưa lội nước trở về. Đại đội 2794 của tôi đóng tại xã Tịnh Thới cho đến ngày xuống tàu tập kết ra miền  Bắc.

Vào khoảng đầu tháng 10 năm  1954, chuyến tàu chuyển quân đầu tiên chuẩn bị rời bến Cao Lãnh. Trong lúc tôi chuẩn bị xuống tàu, đồng chí Hải, quân báo Huyện đội Trảng Bàng, là cháu  gọi tôi bằng  chú  chạy đến,  đưa  cho  tôi một  cái áo mưa  và nói: “Con đã sẵn  sàng cho  chuyến tập  kết, nhưng phút cuối  con  nhận được  lệnh  ở lại miền  Nam,  không  đi tập kết nữa. Nghe nói ngoài miền  Bắc mưa nhiều, lạnh lắm, chú đi nhớ giữ sức khỏe, đem theo cái áo mưa này để có mà dùng.  Hy vọng hai năm  nữa chú cháu  mình sẽ lại gặp nhau!”.  Tôi không  nghĩ rằng cuộc nói chuyện ngắn  ngủi đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Hải, hy vọng về cuộc  gặp gỡ với người cháu  và cũng  là người đồng  chí đã ra tận bến  đò tiễn tôi đi tập kết mãi không thành. Bởi, khi được phân công ở lại miền Nam, Hải tiếp tục nhận nhiệm vụ quân báo của mình. Trong một trận tiến công địch của quân ta tại Dầu Tiếng, Hải trúng đạn,  bị thương nặng  và đã hy sinh. Sự hy sinh của Hải được Tổ quốc  mãi mãi ghi công, đó như  một  sự an ủi cho người ra đi, cho tôi và gia đình  của Hải. Tàu càng đi xa, nỗi nhớ nhà càng dày thêm trong  tâm  khảm,  nhớ đến  da diết, cồn cào mảnh đất miền  Nam yêu dấu.

Hai năm  không  nhiều, nhưng với chúng tôi khoảng thời gian đó dài đằng  đẵng.  Không làm sao có thể  diễn  tả hết  cảm  giác nhớ  thương về miền  Nam  ruột  thịt  của người con xa xứ. Hai năm  trời, tôi luôn phải sống trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”, ngày ra thao trường rèn quân, luyện  cán,  lúc đêm  về, mỗi khi nằm  xuống  miền  Nam  lại hiện  về trong  trí nhớ tôi rõ mồn  một,  từng ngôi nhà  tranh, bờ tre đằng  ngà, ngọn  núi Bà Đen, bến  đò Cao Lãnh chiếm lấy tôi trọn  vẹn.

Một lần, đang  đi trên  đường  Hà Nội, tôi nghe  trên  đài phát bài hát  “Áo bà ba”: “...Trời thanh thanh nắng  tươi êm đềm,  hồ Gươm  vui  sắc hoa tươi thắm, ngời ánh  nắng  áo tím, áo xanh. Thoáng  qua, thoáng qua, kìa áo bà ba. Tôi nhớ ai bên dòng nước xanh, người áo trắng  đi bên hàng  dừa. Người yêu tôi mong  chờ, người đi xa mắt  tôi không  rời, còn trông theo phất  phơ chiếc áo. Nhìn chiếc áo tôi nhớ thương  ai,... nhớ thương,... nhớ thương  người ở miền Nam...”.

Nghe  những lời hát  ấy, cảm  xúc về miền  Nam  lại trào  dâng  trong  tôi. Nói về những tháng ngày thương nhớ  đó, tôi và anh  Lưu Duy Khánh  đã viết bài hát: “Ngày chúng tôi đi tập kết”, vào năm  1956:

Từ miền Nam xa xôi

Vượt qua muôn trùng  dương sóng gió

Về nơi đây đắp xây

Kiến thiết cho nước nhà  hùng  cường

Từ miền Nam xa xôi

Nhân dân ta giờ đây còn tranh đấu với quân  thù

Đem máu xương giành  lấy hòa bình

Luôn đấu tranh thống  nhất Nam-Bắc-Trung một  nhà

Nhớ hôm  nào qua các phố phường

Có những mẹ già dầm  mưa  thân gầy ướt át

Tay run run cầm ngọn đuốc chiếu sáng trên đường

Cho các con Bộ đội

Đi qua những khúc  đường trơn

Những thiếu  nữ vui mừng ra đón tiếp tưng bừng

Hôm nay đây ngày đình chiến

Em chúc các anh

Lên đường đi tập kết luôn  được mạnh và vui

Hai năm nữa thôi. Hai năm sẽ về

Về đây xây đắp cho miền Nam yêu quí nghe anh.

Thời hạn  tập  kết hai năm  theo  nội dung  Hiệp  định  Genève  đã hết,  nhưng ngày về vẫn chưa  đến,  cuộc  hiệp  thương tổng  tuyển cử, thống nhất nước  nhà  đã không  thể  diễn  ra. Miền Nam vẫn còn chìm  trong  lửa đạn  chiến  tranh. Quê hương  tôi, gia đình  tôi, làng xóm tôi tiếp  tục phải  gánh  chịu  bao  nỗi đau  thương, mất  mát  trước  họng  súng  tàn  bạo  của kẻ thù.  Còn riêng  tôi vẫn phải  tiếp  tục  sống  trong  tâm  trạng  ngày Bắc, đêm  Nam.  Nghe  tin chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đề ra Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền  Nam, tàn sát, giết hại đồng  bào  vô tội hết sức dã man,  lòng căm  thù  bọn  phản nước,  hại dân  trong tôi càng lớn, tôi càng quyết  tâm  ra sức luyện quân, chờ ngày trở về giải phóng miền  Nam, thống nhất nước nhà.

... Ngày trở về

Ngày trở về rồi cũng đến, tháng 5 năm 1961, chúng tôi được lệnh hành quân về Nam chiến đấu.  Thế là sau 7 năm  trong  cảnh người sống  ngoài  phương Bắc, tâm  hồn  ở mãi phương Nam, tôi được trở về nơi chôn  nhau cắt rốn, được cùng đồng bào Nam Bộ chiến  đấu chống lại bọn bán nước tay sai Ngô Đình Diệm. Sau 5 tháng dài vượt dãy Trường Sơn, chúng tôi về đến  chiến  khu Đ. Đứng giữa đại ngàn  chiến  khu Đ, ngước nhìn mặt  trời xuyên qua những tán cây rừng, tôi như muốn hét to lên rằng: “Miền Nam ơi, đồng bào Tây Ninh ơi, Cao Lãnh ơi, chúng  tôi đã trở về đây, chúng  tôi đã về để chiến đấu, để bêu đầu Diệm, quét sạch quân thù,  giải phóng  miền Nam,  thống  nhất nước nhà  cho thỏa lòng mong  đợi của bà con”.

Trung tá Trần Thanh Tòng (Trần Thanh Phong thể hiện)


Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: