trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Đi tập kết

Trước khi tập kết ra Bắc, tôi thuộc Đại đội 951 địa phương quân Lai Vung. Cũng như bao chàng trai khác, ở 26 tuổi, cái tuổi với bao hiếu  kỳ, dự định  và đam  mê. Tập kết tại Hòa An, chúng tôi ở chung với dân,  quét  nhà,  tuyên truyền, ca hát  cùng  các em

nhỏ.  Tôi thương bà con mình lắm, họ nhường nhà  cửa cho bộ đội ở, họ cho mượn bếp  và nhường cả chỗ  cho  bộ đội ngủ.  Đặc biệt  là các bà, các mẹ,  các chị, các em Lai Vung, họ thường xuyên bơi xuồng  qua  thăm, mang bao nhiêu là quà,  nào  là chuối, bí, bầu,  khoai... Đôi khi họ còn ở lại tiếp hai ba ngày mới về (người thân của anh  em trong  đơn vị).

Tôi còn nhớ, một buổi sớm tinh mơ khoảng 5 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 1954 chúng tôi được  lệnh  hành quân ra bến  bắc,  xuống  tàu  há mồm của  Pháp  bắt  đầu  chặng đường mới. Bà con nhân dân  ra đưa tiễn rất đông,  phần lớn là bà con Cao Lãnh. Trong niềm  vui xen lẫn nỗi buồn khiến anh em bồi hồi, xúc động và có cả những xót xa trong dạ mỗi người đi tập kết. Khi chia tay, chúng tôi không dám nhìn lâu, nhìn kỹ vào những gương mặt người thân, kể cả các em nhỏ  đứng  trên  bờ đang  nghẹn ngào...  Trong  dòng  người đông  đúc  đó, mẹ tôi cũng  ra tiễn con. Mẹ giơ hai ngón  tay lên ra hiệu  hai năm  sau gặp lại...

Trời về chiều.  Nắng  vàng  tan  biến.  Chiếc  tàu  há mồm của  Pháp  cặp  sát vào tàu  Liên Xô đang  neo  đậu  tại Vũng Tàu. Chiếc tàu  của Pháp  trở nên  bé xíu so với tàu  Liên Xô. Tàu Liên Xô phải  thả thang xuống thì anh  em chúng tôi mới lên được. Phía trên  cầu thang, các thuỷ thủ Liên Xô chờ sẵn đón  nhận từng cây súng,  từng người với tác phong nhanh nhẹn, nghiêm túc, đầy trách  nhiệm và rất thân thiện.

Chiều hôm  đó, dùng  cơm xong thì ai nấy lo nghỉ ngơi cho khỏe lại hoặc nằm  hàn huyên bên  nhau cho  đến  khi nhắm mắt  ngủ.  Sáng hôm  sau,  khi mặt  trời đã lên cao, đứng  trên boong tàu,  tôi nhận thấy  thành phố  Vũng Tàu thật  đẹp,  thật  hấp  dẫn.  Một khung  cảnh sơn thuỷ  hữu  tình.  Thành phố  Vũng Tàu là bán  đảo  mà Pháp  đặt tên  là Cap Saint Jacque - một  trong  hai mươi  mốt  đơn  vị hành chính cấp tỉnh  ở Nam  Kỳ dưới thời thuộc địa. Vào thời điểm  đó, tôi mong  sao cho mau  đến ngày thống nhất đất nước để quay trở lại thưởng ngoạn vẻ đẹp nơi này - vẻ đẹp của một  phần đất yêu dấu  của Tổ quốc  Việt Nam đang  còn bị địch chiếm đóng.

Tàu xuất phát, mỗi lúc một xa bờ. Mặt nước dần chuyển từ màu xanh lá cây lợt đến màu xanh  dương  rồi thành màu  đen  khi màn  đêm  buông xuống  phủ  kín bốn  phương trời. Dù tàu vượt trùng dương  mênh mông  biển nước nhưng không  vì thế mà buồn chán. Đêm nào các thuỷ  thủ  cũng  chiếu  phim cho mọi người xem. Phim  được chiếu  thẳng vào mặt  ngoài vách buồng trên  boong tàu sơn màu  trắng,  hình ảnh  màu  hiện  rõ chẳng khác gì chiếu  lên màn  bạc. Mọi người xem rất thích  thú  và chờ đợi những tình  huống ly kỳ, hấp  dẫn.

Lênh  đênh giữa biển  khơi hai ngày  hai đêm,  tôi cùng  nhiều đồng  chí say sóng  không ăn được gì, chỉ uống  nước cầm hơi. Đến ngày thứ ba, chúng tôi bắt đầu khỏe lại, có thể ăn uống  bình  thường. Tàu cập bến  Sầm Sơn (Thanh Hóa),  khi được  thông báo  chuẩn bị lên bờ, ai nấy cũng phấn khởi, háo hức vì sắp được đặt chân lên miền  Bắc. Vậy là sắp kết thúc một  cuộc  hành trình trập  trùng sóng gió - tôi thầm nghĩ.  Tàu đậu  cách  bờ không  xa lắm. Chiều mùa  đông  Thanh Hóa, trời không  nắng.  Từng cơn gió lành  lạnh  lúc nhè  nhẹ,  khi dữ dội vờn trên  khuôn mặt.  Lớp lớp sóng xanh đầu bạc nối đuôi  nhau ập tràn  lên bãi cát mịn màng, trắng xóa. Đó cũng là lúc nhiều chiếc thuyền chèo đổ xô ra con tàu, rộn rã tiếng kêu. Ai cũng  bảo  nhau hợp  sức chống chọi với sóng gió để mau  chóng cặp sát con tàu  chở bộ đội miền  Nam tập kết vào bến  bãi an toàn.

Lên bờ, chúng tôi được các cô gái vui vẻ mời ngồi nghỉ xơi chè. Nhiều  anh em mới nghe lần đầu  hí hửng,  tưởng  đâu  được ăn món  chè thật.  Tới chừng  mấy cô bưng  ra mới biết là được mời uống  nước  trà. Tuy vậy, được nhâm nhi một  cốc nước  trà nóng  miền  Bắc trong tiết trời giá lạnh  cũng  cảm thấy lòng ấm áp và sảng khoái.

Ở Sầm Sơn nghỉ ngơi ba ngày, tôi cùng các đồng đội hành quân bộ đến đóng tại địa bàn thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh  Thanh Hóa. Dẫn đầu  đội hình hành quân có người cầm cờ đỏ sao vàng mang dòng  chữ “Thành đồng  Tổ quốc”  phất phới  bay. Đi bộ là chuyện thường. Cái không  bình  thường là đã quen đi chân đất từ lâu, đến  khi được trang  bị giày, đi đường xa nên  nhiều người trong  chúng tôi kêu đau  vì bị phồng chân. Đau cả lúc đi lẫn khi ngồi nghỉ. Nhưng  được đi trên  những con đường,  ngõ phố  dường  như  những mệt  mỏi, đau  rát đều  bị quên đi, thay vào đó chúng tôi tranh thủ  ngắm nhìn làng mạc  miền  Bắc. Ở đây bà con sống theo  chòm xóm, vây quanh nhau nên  rất gần gũi, thân thiện, ấm nồng  tình  làng nghĩa  xóm.

Đến Hậu Lộc, chúng tôi được đóng quân trong nhà dân như thời gian tập kết trước ngày xuống  tàu  ra Bắc. Hậu  Lộc lúc này đang  thời  điểm  giáp  hạt,  thiếu đói trầm  trọng.  Nhìn vào sân các gia đình  chỉ có những miếng  khoai lang xắt lát phơi khô, để dành nấu  ăn thay cơm.  Các bữa  ăn,  nhiều gia đình  còn  phải  cho  thêm rau  vào nấu  chung với khoai  phơi khô. Chúng  tôi không  khỏi xót xa. Một cảnh tượng  trái  ngược  với cuộc  sống  của  bà con miền  Tây lúc bấy giờ. Mặc dù sống trong  cảnh đói rét, song đồng  bào vẫn sẵn sàng  chấp nhận ăn đói để bộ đội tập kết được ăn no tập luyện. Họ nhường cho chúng tôi những điều kiện tốt nhất để sinh  hoạt.  Họ nghèo khổ gian  nan  nhưng rất thương bộ đội miền  Nam tập  kết. Mọi người,  từ già đến  trẻ đều  gọi chúng tôi với cái tên  trìu  mến  như  đã nghe  tự bao giờ: chú  bộ đội ơi! Bao ngày trên  miền  Bắc là bao ngày anh  em bộ đội tập  kết chúng tôi nhớ  da diết  miền  Nam,  ai từng  trải mới hiểu  được  thế  nào  là “ngày Bắc, đêm  Nam”. Thế rồi, thời gian và con người cũng  giúp vơi dần  đi nỗi nhớ.  Ngày đó anh  em vẫn truyền nhau bốn  câu thơ, cho đến  bây giờ tôi vẫn không  thể nào  quên được,  những câu thơ nói lên tâm  trạng  của người xa nhà,  xa quê hương, nói lên tình  cảm của người dân  vì anh  em, bộ đội và trên  hết là tình  người:

Nam Bộ xa xôi mấy nhịp cầu

Áo hường,  áo trắng hãy còn lâu

Miền Bắc đông về gió lạnh  lắm

Sưởi ấm lòng tôi, tạm  chiếc áo nâu.

Sau Tết năm  1955, đơn vị hành quân đến  đóng  quân trong  nhà  dân  ở cặp bờ hữu ngạn sông  Mã thuộc địa phận Hoằng  Lương, Hoằng  Hóa,  Thanh Hóa.  Người dân  nơi đây vẫn sống trong tình trạng thiếu lương thực trầm  trọng vì chưa tới mùa thu hoạch. Để tránh cho chúng tôi chứng  kiến những bữa ăn của mình, toàn  là rau độn  khoai nên  bà con dọn  cơm ăn trong  buồng hoặc  đóng  cửa lại khi ăn. Vì ngại để bộ đội thấy,  bộ đội không  vui. Cũng trong  năm  này, tôi nhận được hai bưu  thiếp do các mẹ và các chị trong  miền  Nam  gửi ra Bắc để thông tin về “gia đình bình  yên, mẹ chúc các con mạnh khỏe”...

Thời kỳ đóng  quân tại sông Mã là thời kỳ đơn vị tiến hành chỉnh huấn về chính sách cải cách ruộng đất. Chúng  tôi hết lên dự tại hội trường  thì về thảo  luận  ở tổ. Cán bộ cũng như chiến  sĩ đều giữ thái độ học tập nghiêm túc. Ngoài việc học tập, đơn vị còn lao động,  giúp dân  rồi biểu  diễn  văn nghệ...  Chúng  tôi đi làm bờ kè giúp dân  ở huyện Nông  Cống, bờ kè dài khoảng 6km chạy dài theo  làng. Tới năm  1958, tôi được điều động  ra Hà Nội xây dựng trung đoàn Pháo  tại cầu Diễn, cách cầu Giấy khoảng vài km. Ở Hà Nội được hơn hai năm, tôi tiếp tục được phân công lên Bắc Giang xây dựng  công trường  Phân  Đạm.

Tháng 4 năm  1962 tôi được điều động về chiến  trường  miền  Nam chiến  đấu. Trên chặng đường  Trường  Sơn, mặc  dù  không  phải  mở đường  gian  khổ như  những năm  1959-1960, nhưng chúng tôi vẫn phải hết sức cẩn thận. Đường Trường Sơn gian nan  lắm, rừng thiêng, nước độc, núi cao, suối sâu. Kẻ địch phục kích, sốt rét, vắt... nhiều đồng đội của tôi đã phải vĩnh viễn nằm  lại với Trường Sơn.

Kể lại chuyện xưa, mới ngày nào  xuống  tàu  đi tập  kết, giờ đã 60 năm  đã trôi qua,  đó là khoảng thời gian ngắn  với lịch sử, nhưng lại tương  đối dài so với cuộc  đời một  con người. Vinh dự là người lính Cụ Hồ, được tham gia sự kiện tập  kết chuyển quân hào hùng,  được học tập, lao động và xây dựng hậu phương lớn miền  Bắc. Được vượt Trường Sơn trở về trực tiếp chiến  đấu và được sống trong  những năm  tháng oanh liệt, hào hùng  của lịch sử... Tất cả điều đó là những gì quý báu nhất, luôn được thế hệ chúng tôi trân  trọng  và mong  rằng, thế hệ trẻ hôm  nay và mãi mãi mai sau hiểu  được cái giá của độc lập để ra sức bảo vệ, xây dựng,  cống hiến  vì một  Việt Nam giàu đẹp và phát triển  phồn vinh.

Lê Hữu Tài (Lương Hòa Yên) (Thụy Anh thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: