trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Đoàn Văn công Ngũ Yến

Vào khoảng năm  1950 - 1951, lực lượng vũ trang Hòa Hảo phát triển  mạnh, đánh chiếm sâu vào vùng giải phóng của Việt Minh.  Chiến  trường  của miền  Tây Nam  Bộ trở nên  ác liệt, các đoàn văn công như đoàn Chim Việt của tỉnh  Long Châu  Sa, đoàn Mạ Xanh Lúa Vàng của Mỹ Tho lần lượt bị giải tán. Cuối năm  1951, lãnh  đạo cấp trên  có ý định  thành lập một đoàn văn công vì chính văn nghệ  là phương tiện tuyên truyền hữu ích nhất của cách mạng đối với bà con trong  khắp  vùng miền.  Ý định  này được tiến hành cấp tốc. Một đoàn văn công mới ra đời có tên là Đoàn  Văn công Ngũ Yến (Ngũ Yến là bút danh của nhà  văn Nguyễn  Văn Nguyễn, là người lãnh  đạo văn nghệ  Nam  Bộ thời bấy giờ, là uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ). Lực lượng chủ yếu của đoàn là những người làm công tác văn nghệ  ở đội văn nghệ  tuyên truyền lưu động  Long Châu  Sa, cộng  với một  số nhân sự do Tỉnh đội đưa sang và một  số nơi khác bổ sung  về.

Đoàn do ông Bảy Toàn (còn gọi là ông Bảy Xuỳn), nguyên là Huyện đội trưởng  huyện Lai Vung làm trưởng  đoàn và ba phó  đoàn là ông Tư Xứng, Ba Nha, Phi Vân (tức Phan  Trần).

Nhân sự của đoàn gồm có các nghệ  sĩ nổi tiếng:

- Ông Tám Danh - diễn  viên.

- Ông Ba Du - diễn  viên.

- Ông Năm Bá - đờn độc huyền.

- Ông Ba Bằng - đờn cò, tỳ bà.

Từ Đài phát thanh Sài Gòn - Chợ Lớn tự do về có:

- Ông Chín Minh  (Lâm Quang  Minh  - violon, ghi ta, accordéon).

- Ông Nguyễn  Thuần - violon.

- Ông Lê Yến - kèn trompette. Từ đoàn Quân  khu 7 về có:

- Ông Lại Hữu Nha - saxophone.

- Ông Nguyễn  Ngọc Thới - nhạc sĩ. Từ Tỉnh đội về có:

- Anh Trần Văn Khiêm - diễn  viên.

- Anh Minh  Phụng - ca sĩ.

- Anh Ngọc Hùng  (Ngọc Thọ) - diễn  viên.

- Anh Phạm Lý - họa sĩ.

Từ đoàn văn công tuyên truyền lưu động  Long Châu  Sa có:

- Hoàng  Ba - diễn  viên.

- Cao Minh  Đẳng - diễn  viên.

- Lê Hội - diễn  viên.

- Lê Quang  Tiến - nhạc sĩ.

- Đỗ Hữu Thời - nhạc sĩ.

- Lê Hữu Tâm - nhạc sĩ.

- Chị Kim Nhụy - ca sĩ.

(Tất cả nhân sự trên  là của Đoàn  Văn công  Ngũ Yến từ năm  1952 - 1954, nhưng họ về Đoàn  vào nhiều thời điểm  khác nhau chứ không  phải  cùng  lúc).

Hoạt  động  của đoàn có hai đội chính:

- Đội kịch nói.

- Đội cải lương.

Do Đoàn  ít người nên  một người có thể làm hai, ba nhiệm vụ như: ông Ba Nha vừa đàn kìm vừa viết kịch bản,  vừa làm diễn viên và là người có nhiệm vụ khi báo động có máy bay địch, ông phải bỏ đàn ôm lấy cái hộp gỗ chụp vào đèn măng sông để không lọt ánh sáng ra ngoài,  phải  tắt ngay để giữ an toàn  cho đêm  diễn.  Khi còi báo an vang lên thì ông giở hộp gỗ lên, đèn  sáng và đoàn lại tiếp tục diễn.

Mọi hoạt động của Đoàn thì hoàn toàn tự thân vận động, từ khâu kịch bản, đạo diễn, dàn dựng,  diễn  viên... Kinh phí của Đoàn  không  có nên  chỉ nhờ  vào sự vận động  quần chúng nơi Đoàn  đến  diễn  ủng  hộ: đi đến  đâu  thì ở nhờ  nhà  bà con,  sống  cùng  với dân,  họ cho gạo, củi, mắm muối,  còn thực phẩm hàng ngày thì đi bắt chuột, bắt cá về ăn. Mục đích của Đoàn  là phục vụ văn nghệ  và tuyên truyền cách  mạng cho bà con và chiến  sĩ trong  vùng chiến  khu.  Trong  Đoàn  có rất nhiều nghệ  sĩ, nhạc sĩ có tiếng  tăm  uy tín như  bác  Ba Du, ông Tám Danh, ông Ba Nha,  ông Năm  Bá, ông Ba Bằng là những diễn  viên, và là những nghệ  nhân đàn  cò - kìm - tranh - độc huyền nổi tiếng. Các soạn  giả cải lương, kịch nói Phi Vân, Thanh Nha là những người từng lăn lộn sống chết  với Đoàn,  đóng  góp cho Đoàn  rất nhiều. Trong  Đoàn  mọi  người  đều  thương yêu đoàn kết, có trách  nhiệm lẫn nhau, trong Đoàn  còn có một  chi bộ Đảng.  Đây là nòng  cốt tinh  thần cho toàn  Đoàn.

Các vở lớn mà Đoàn  thường diễn  là:

- Chung  sức diệt thù  và Sau phút lỡ lầm của Thanh Nha.

- Thoát  vòng đau khổ và Một bó đăng của Phi Vân.

Nội dung  của  các vở này là kêu gọi binh  lính  bỏ hàng  ngũ  địch  trở về với cách  mạng, với nhân dân,  rất phù  hợp  với công  tác binh  vận của  ta thời  bấy giờ. Ngoài ra Đoàn  còn dựng  những chập  cải lương ngắn,  những vở kịch ngắn,  dựng  múa,  dựng  hát.  Để phù  hợp với tình  hình thời chiến  nên  Đoàn  phải  di chuyển nơi ở và nơi diễn  liên tục, không  ở đâu quá 2, 3 tuần. Đoàn  đi đến đâu thì dân  chúng nơi đó vui mừng  phấn khởi vì Đoàn  đem  lời ca, tiếng đờn làm ấm lòng người.

Tôi nhớ, điểm  đầu tiên thành lập Đoàn  là ở Cả Nổ, Ba Sao tại nhà  ông Tư Huấn, sau đó là nhà  ông Sáu Chung  (tức ông Năm  Phàn). Ông Sáu Chung  mặc  dù không  là thành viên của Đoàn  song ông rất yêu quý Đoàn,  mê văn nghệ,  nhất là cải lương. Ông đờn  kìm, đờn gáo hay đàn  violon  đều  hay. Ông cũng  là bạn  thân của  ông  Ba Nha  ngoài  đời cũng  như trong  hội để đờn  ca tài tử cải lương. Mặc dù ông là Huyện đội trưởng  nhưng ông luôn  đi theo  Đoàn  để đờn  ca cùng  với đoàn, ngoài  công việc đánh giặc, nếu  có thời gian ông đều muốn đờn cho mọi người nghe  cho đã, đó cũng  là cách  thư giãn của ông.

Đoàn  chúng tôi đi lưu diễn  liên tục khắp  nơi trong  tỉnh,  bất kể mùa  khô hay mùa  nước nổi. Vào mùa  nước nổi thì Đoàn  cực hơn mùa  khô. Cực nhưng có lẽ vui hơn vì quang cảnh sông nước,  xuồng  ghe tấp nập,  nhộn nhịp, hấp  dẫn  vô cùng.  Mùa nước  chúng tôi thường diễn  trên  các gò như  gò Cà Dăm,  gò Sa Rài, gò Mười Tải. Những  gò này dân  thường cầm trâu, chúng tôi mượn ván ngựa làm sân khấu trên những chuồng trâu ấy để diễn. Chộn rộn nhất là lúc đèn măng sông sáng lên thì xuồng ghe ào ào rẽ nước lao đến xem. Trên chuồng trâu,  chúng tôi biểu diễn,  xung quanh gò đồng  bào ngồi dưới xuồng xem hào hứng.  Khi vô câu vọng cổ êm ả thì tiếng  vỗ tay lẫn tiếng  dầm  gõ vô be xuồng  lốp bốp  nghe  rất vui tai, quang cảnh đêm  trăng  mùa  nước nổi của đêm  diễn  thật  là tuyệt.

Còn nữa, tôi nhớ rất rõ lần Đoàn  hành quân đi từ Sở Hạ tới Tân Thành, Cả Cái, khi đó là mùa  nước  nổi, Đoàn  chúng tôi đi trên  bốn  chiếc  xuồng,  chúng tôi chèo  xuồng  đi cả ngày lẫn đêm, đêm Tháp Mười hôm đó trăng thật sáng, gió đồng thổi mát lạnh, trên xuồng chúng tôi thỏa  chí mà ngắm trăng,  có lẽ chưa bao giờ chúng tôi có nhiều thời gian để ngắm trăng đến thế. Những  ánh sáng dịu dàng  tỏa khắp mặt nước mênh mông. Trong không  gian tĩnh mịch  ấy, chỉ nghe  tiếng chèo  khua  trên  mặt nước và những vệt sáng kéo dài bị cắt bởi mái chèo  làm mặt  nước càng thêm lấp lánh.  Người ta thường “tức cảnh làm thơ” nhưng ở đây không  có ai làm thơ mà chỉ có nhạc sĩ Lê Yến đã cầm chiếc kèn trompét của mình ra thổi. Tiếng kèn vừa vang lên trong  đêm  thanh vắng lặng thì ngay lập tức không  gian như  biến đổi, vạn vật như  muốn dời, những tiếng  chèo  khua  trên  mặt  nước  rộn  rã hơn,  từ phía  xa tôi đã thấy một  số xuồng  vội vã tiến  gần chúng tôi, còn những chiếc  xuồng  phía  trước  thì hầu như đi chậm lại... Trong không gian tĩnh mịch này, chỉ còn có tiếng kèn trompét là nổi trội, lúc lên bổng, lúc xuống trầm  nghe thật là quyến rũ. Bỗng nhiên có tiếng ai đó thốt lên:

- Có phải  văn công đó không? Đoàn  Văn công Ngũ Yến phải  không?

- Sao anh  biết là Đoàn  Văn công Ngũ Yến? Một người trong  đoàn chúng tôi hỏi lại.

- Đúng  là Đoàn  Văn công Ngũ Yến rồi, chỉ có Đoàn  Ngũ Yến mới có tiếng kèn này thôi, tôi nhận ra rồi mà.

Đoàn  chúng tôi cũng  vui vẻ đáp  lại:

- Đúng  là Đoàn  Văn công Ngũ Yến đây.

Nghe vậy, mấy chiếc xuồng chung quanh bơi vội tới chỗ bốn xuồng của chúng tôi. Muốn được nghe tiếng kèn, muốn được gặp tận mắt diễn viên mà trước đây họ chỉ nhìn thấy trên sân  khấu,  có lẽ họ còn muốn xem cả đoàn diễn  nữa.  Họ vây quanh bốn  xuồng  của Đoàn nhưng không  được bởi lẽ Đoàn  vẫn phải  hành quân theo  kế hoạch. Trong một  đêm  trăng sáng  tưởng  chừng  chỉ có bốn  chiếc  xuồng  lặng lẽ hành quân không  ngờ lúc đó xuất hiện thêm chừng  mười  chiếc  xuồng  của nhân dân  đi kèm theo  xuồng  của Đoàn.  Không ai yêu cầu  gì thêm nhưng nhạc sĩ Lê Yến đã thổi  thêm một  bài hát  nữa  để tặng  lại cho  những người hâm  mộ Đoàn.  Trời về khuya,  đêm  Tháp  Mười thanh vắng, gió Tháp  Mười vẫn thổi sâu hòa cùng những con sóng nhỏ lao xao, những vệt sáng trắng  của những mái chèo nhịp nhàng khua trên  mặt nước. Trời se lạnh  nhưng trong  lòng mỗi chúng tôi đều cảm thấy ấm áp hơn bao giờ hết vì xung quanh chúng tôi vẫn đang có những ánh mắt trìu mến  dõi theo từng bước của Đoàn.

Ngày 07 tháng 5 năm  1954, chiến  thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã đưa nước  ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập và tự do. Hiệp định  Genève  được ký kết. Theo Hiệp định,  các cán bộ và chiến  sĩ miền  Nam  phải  tập kết ra Bắc và quân đội Pháp  phải  chuyển vào Nam,  sau hai năm  mới tổng tuyển cử, đất nước thống nhất một  nhà.

Lúc bấy giờ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam chúng tôi buồn vui lo lắng lẫn lộn, xuất hiện hai luồng suy nghĩ. Một số người đồng tình với Chính phủ, với Hiệp định. Một số người cho rằng  nếu  tập  kết ra Bắc nhường lại miền  Nam  cho quân Pháp  thì đâu  có phải  là ta thắng mà là ta thua, thế thì không  được.  Nhưng  được sự động  viên, giải thích  của cấp trên  là ta phải  chấp  hành Hiệp định,  phải  quán triệt  đường  lối của Đảng  và Chính  phủ,  chấp  hành kỷ luật, tin tưởng  vào sự lãnh  đạo của Bác Hồ. Các cuộc họp  khẩn  trương  để giải đáp  thắc mắc khai thông tư tưởng  cho chiến  sĩ và đồng  bào; đồng  thời tiến hành lập danh sách “đi, ở”. Đây cũng  là một  vấn đề lớn xảy ra, nhiều người có trong  danh sách  “đi” thì lại không muốn đi, xin ở lại, người được ở lại thì muốn xin đi với nhiều lý do khác nhau, nhưng cuối cùng  phần lớn anh  chị em  cũng  xác định  được  ý thức  “đi và ở”. “Đi” là đi học  tập  nghề nghiệp, lấy nhiều kiến thức  về phục vụ cho quê  nhà  sau hai năm  tổng  tuyển cử, còn ở lại là đấu tranh với kẻ thù, gìn giữ mảnh đất quê hương. Do vậy, “đi” hay “ở” đều vinh quang.

Tập kết ra Bắc dù chưa biết ai đi aở nhưng trong tôi lòng bồn chồn lo lắng hơn cả. Đoàn Văn công  Ngũ Yến đã hoàn thành sứ mệnh, đồng  nghĩa  với việc là giải tán  Đoàn,  ba chữ thật  đơn giản song đối với tôi có nghĩa  là chấm hết. Tôi phải  xa Đoàn,  xa các anh,  các chú trong  Đoàn,  xa những tấm  lòng luôn  yêu thương đùm bọc tôi hết mực, xa tất cả những gì mà tôi đã có, một  cậu bé mồ côi cha từ thuở  nhỏ,  gia nhập đoàn văn công với niềm  đam mê ca hát. Mọi khó khăn đến với tuổi thơ tôi thật nhiều. Nhưng  tất cả tôi đều vượt qua nhờ có những tấm lòng cao cả của các chú, các anh  trong  Đoàn.  Cứ nghĩ tới đây là tôi lại khóc, mà còn khóc to nữa  (vì tôi là đứa hay tủi thân, hay khóc).  Mọi người thương tôi, an ủi tôi nhưng không  hiểu  nước  mắt  ở đâu  cứ trào  ra, tôi không  nín khóc được.  Thấy vậy, ông Ba Nha lúc đó vẫn còn làm phó  đoàn, nhìn tôi rồi nói:

- Nè, con trai không  được khóc, người cách mạng không  được khóc, phải dũng  cảm lên!

Giọng nói của ông hơi to, gần như quát  để tôi nghe  thấy mà nín. Ấy thế mà lạ, cái giọng nghe  thì oai nghi lành  lạnh  mà sao nó lại ấm áp lạ lùng.

- Con trai không  được khóc, phải  dũng  cảm lên!

Tôi giật mình và nín  ngay lập tức. Lúc đó tôi đưa  tay quệt  nước  mắt  và len lén ngước nhìn lên, bất chợt tôi gặp đôi mắt  đỏ ngầu  ngân  ngấn  nước mắt  của ông.

Đoàn  Văn công  Ngũ Yến hoạt  động  khắp  nơi, nơi nào  có dân  là Đoàn  đến  phục vụ từ Tân Thành, Cả Cái, ấp Cá Rô, Sở Thượng,  Sở Hạ,... Đoàn  hoạt  động  được hai năm  từ năm 1952 - 1954. Khi Hiệp  định  Genève  vừa ký kết đình  chiến, cấp  trên  đã có ý định  đưa  các đoàn văn công ra Bắc, do vậy các đoàn văn công ở miền  Đông, các đoàn văn công ở Đồng Tháp Mười tập trung về tỉnh  Long Châu Sa nhập vào Đoàn  Văn công Ngũ Yến thành Đoàn Văn công Phân  liên khu miền  Đông mà Đoàn  Văn công Ngũ Yến là lực lượng nòng  cốt.

Những  ngày sắp đi tập  kết ra Bắc, Đoàn  Văn công  Ngũ Yến cũng  có dịp phục vụ đồng bào  và chiến  sĩ với nhiều vở diễn  quen thuộc của  các soạn  giả Thanh Nha,  soạn  giả Phi Vân. Những  đêm  biểu diễn  này luôn  được sự hoan nghênh nhiệt liệt của đông  đảo bà con và chiến  sĩ đang  tập trung tại Cao Lãnh.

Những  ngày này, không  riêng  gì tôi mà  trong  lòng ai cũng  vậy, nôn  nao,  bồn  chồn, lo lắng. Ở điểm  tập  kết mỗi  sáng  đều  có buổi  phát thanh trực  tiếp.  Ông Ba Nha  phân công cho bé Hạp cầm cây đờn kìm để đờn cho ca sĩ trong  đoàn ca. Trong những ngày này, Đoàn có diễn  vở “Trần Hưng Đạo bình  nguyên” của tác giả Trần Bạch Đằng, vở này được diễn  ở Doi Me, ở Mỹ Quý, đồng  bào rất thích.

Ngày 25, 26 tháng 10 năm  1954, nhất là đêm  26, Đoàn  hầu  như  thức  trắng  để đờn ca vì đến sáng 27 là Đoàn lên tàu đi tập kết. Đêm đó có ông Năm Phàn  (tức ông Sáu Chung), ông Ba Nha là những người đàn ca suốt đêm.  Tiếng đàn kìm nhặt khoan trước giờ chia tay tạm biệt như  thấu nỗi lòng của người đi, kẻ ở, ở ngày mai ai cũng  buồn tủi mong  chờ.

Sáng ngày 27 tháng 10 năm  1954, tại bến  bắc Cao Lãnh, đoàn tàu  há mồm đã cập bến sẵn  sàng.  Những  chiến  sĩ, những người  đi tập  kết lần lượt lên tàu.  Khi cái bửng  tàu  kéo lên đóng  lại, tiếng  hát của các chiến  sĩ dưới khoang vang lên hùng  hồn  cùng  với hai ngón tay nhong nhóng giơ lên cao tạm  biệt. Trên bờ người đi tiễn đứng dọc bờ sông từ chợ Cao Lãnh ra bến  sông trở nên  lộn xộn: người oà lên khóc to, người thì gào lên, dằn  từng tiếng:

- “Hai năm, hai năm...”

Hòa những tiếng  khóc, tiếng  gào là những lời nhắn gởi các anh  đi mạnh khỏe,  các anh lên đường  bình  an, hẹn ngày gặp lại, Việt Nam thống nhất muôn năm  v.v... Đi hay ở, trong lòng ai cũng  bịn rịn chia tay với hàng  nước mắt  tuôn rơi lả chả...

Khi tàu  vừa rời bến,  tôi cũng  kịp nhìn thấy  soạn  giả Phi Vân, người  được  phân công  ở lại cũng lẫn trong  dòng  người tiễn đưa đứng dọc bờ sông đưa tay vẫy chào  người trên  tàu. Ông đi trong  đoàn người tay giơ lên vẫy vẫy cho đến  khi con tàu đi xa khuất bóng.

Nhân đây tôi cũng muốn nói vài dòng  về soạn  giả Phi Vân, tức soạn  giả Phan  Trần, Phó Đoàn  Văn công  Ngũ Yến. Một người lãnh  đạo  gương mẫu,  một  người anh  đáng  kính  của mọi người. Ông là người đươc phân công ở lại chiến  trường  miền  Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trong  vùng địch nên  ông phải  nén  tình  cảm, kín đáo chia tay đơn vị để tránh bị phát hiện.  Ông rời Đoàn,  rời đồng  đội trong  những ngày Đoàn  Văn công biểu  diễn  chào  mừng hòa bình  và tiễn  bộ đội miền  Nam  đi tập kết ra Bắc. Bước đi chậm chạp, nặng  nề đầy suy nghĩ bên tai ông như văng vẳng điệu kèn “Tiến binh”  rộn ràng mở màn  buổi biểu diễn,  rồi các tiết mục múa, hát đến các tuồng của soạn giả Thanh Nha và của ông. Ông bỗng nghĩ tới tương lai “cục diện địch - ta” sẽ ra sao? Ông cảm thấy trong  lòng bâng  khuâng xao xuyến... Ông rất ham  học, trong  ba lô của ông lúc nào  cũng  có một  cuốn tự điển  và bên  người lúc nào cũng có hai cây đèn để đọc sách và làm việc ban đêm.  Ông không  chỉ đọc sách mà còn chép  lại để dạy cho người khác cùng  học. Ông ham  học và quyết  tâm  học. Ông rất thông minh, học  đến  đâu  biết  đến  đó. Ông thương bạn  bè và người  nghèo, trong  ba lô ông  có không  quá  hai bộ quần áo vì có bao  nhiêu ông đều  chia  sẻ cho  bạn  bè. Sân khấu  là điều đam  mê nhất của ông. Tôi có nghe  soạn  giả Phi Hùng,  em ruột  của ông kể lại: “Có lần hai anh  em đi chiếc xuồng lên Ba Sao, phía  sau có một  chiếc xuồng cùng  trôi theo  dòng  nước và trên  xuồng  đang  mở dĩa Tô Ánh Nguyệt,  lập tức ông dừng  xuồng  của  mình và thả  trôi theo  xuồng kia, nghe  hết dĩa Tô Ánh Nguyệt  ông mới quay xuồng về”.

Sự học  tập,  hoạt  động  không  ngừng  của  ông  đã giúp  ông  viết được  rất nhiều vở như:

Thoát vòng đau khổ, Một bó đăng, Người nghèo trong khói lửa, Nỗi oan dưới mộ, Hồn thiêng sông núi, Vì tôi là người Việt, Khói lam miền sơn cước, Đào hoa nương tử, Màu tím đèn hoa giấy, v.v... Ông đã viết khá đều  tay các vở kịch ngắn,  cải lương với nội dung:  ủng hộ cách mạng, đả kích kẻ thù, tuyên truyền vận động  bà con yên tâm  ở lại và tin tưởng ở tương lai, chờ đợi người ra đi sau hai năm  sẽ trở về trong  chiến  thắng.

Là người  ở lại hoạt  động  trong  bí mật,  ông là một  trong  những soạn  giả nòng  cốt của cách  mạng. Vào trong  cứ học  tập  Nghị quyết,  hay dự các lớp bồi dưỡng  nghiệp vụ ngắn hạn  rồi trở lại nội thành hoạt  động,  một  thời gian ngắn  lại vô “cứ”, “đi đi, về về” trở nên một  công việc quen thuộc của ông.

Khi Mặt trận  Dân  tộc Giải phóng miền  Nam  ra đời ngày 20 tháng 12 năm  1960 - cũng là lúc Ban Tuyên  huấn Trung  ương Cục thành lập Tiểu ban  Văn nghệ  Sài Gòn - Gia Định và chỉ định  ông (Phi Vân) làm Trưởng  Tiểu ban  - trực thuộc Ban Tuyên  huấn Trung  ương Cục. Tất cả các thành viên Ban Lãnh đạo của Tiểu ban  Văn nghệ  đều là những cán bộ lăn lộn ngược xuôi khắp  các quận nội thành Sài Gòn từ giữa năm  1954 như: Ông Hai Vũ (Chín Bảo) nguyên chủ bút tờ “Thương  Mại” của Phòng Thương  mại Sài Gòn, Ông Tư Trương là soạn  giả nổi tiếng, Ông Mai Quân,  thầy dạy vũ kháng  chiến  nổi tiếng ở Hội truyền bá quốc ngữ, Ông Tư Hùng  là cán bộ văn nghệ  xung kích của Thành đoàn.

Trong  cuộc  đời ông, ông rất thân với soạn  giả Thanh Nha,  người  cùng  gốc gác quê  Sa Đéc, cùng chơi đàn kìm có hạng, lại viết tuồng đúng  cách, được anh em trong đoàn thương mến  và tín nhiệm.

Những  năm  tháng hoạt động cách mạng ở miền  Nam, ông luôn nhớ đến soạn giả Thanh Nha,  nhớ  đến  Đoàn  Văn công  Ngũ Yến ngày nào  của  chiến  trường  “Phân  liên khu  miền Đông”.  Cái ngày  mà  tất  cả anh  em  trong  đoàn từ diễn  viên đến  nhạc công,  thậm chí cả soạn  giả cũng đều chung tay chèo  chống, bơi xuồng đi biểu diễn lưu động khắp nơi, cứ vài đêm  là có một  tối diễn  cho cả ngàn  đồng  bào xem. Ông nhớ rất rõ những tên tuổi nghệ  sĩ: Ba Du, Tám Danh, Năm  Nhụy,  Năm  Bá, Ba Bằng, Hoàng  Sa, Ngọc Hùng,  Hoàng  Ba, Văn Khiêm  luôn  gắn  liền với Đoàn  Văn công  Ngũ Yến. Những  kỷ niệm  này luôn  gắn  liền với cuộc đời cách  mạng của ông.

Một ngày tháng 6 năm  1966, ông và một  số đồng  nghiệp đã bị bom  B52 tại căn cứ Tiểu ban  Văn nghệ  ở Trung  ương Cục. Ông hy sinh ở tuổi 37 (sinh  năm  1929), một  cái tuổi còn rất trẻ, còn đang sung sức viết trong lĩnh vực văn hóa - văn nghệ của cách mạng miền  Nam thời bấy giờ.

Hơn một  năm  sau ngày tập kết, ông Tư Xứng, Phó Đoàn  Văn công Ngũ Yến có viết cho anh chị em trong đoàn một bức thư, trong thư ông viết: “Được biết tin anh em trong đoàn ở ngoài đó học tập, công tác tiến bộ dữ, tôi rất mừng,  đêm  qua tôi nằm  mơ thấy đoàn chúng ta diễn cho đông  đảo đồng  bào và chiến  sĩ xem, rất vui và hào hứng.  Đồng bào vỗ tay tưng bừng,  tôi cũng  vỗ tay theo,  bỗng  tôi giật mình thức  giấc nhìn xung quanh chẳng có một ai, chỉ có mình tôi đang nằm  chèo  queo  trong  chiếc nóp ở giữa cánh đồng trống  vắng, mặt tôi đầm  đìa nước mắt,  vui đâu  chẳng thấy mà chỉ thấy buồn tủi và nhớ anh  em vô cùng”.

Thư của ông không  chỉ buồn nhớ  mà còn có sự vui tếu thường ngày của ông nữa.  Thư ông viết tiếp: “Còn thằng Phi Vân nó viết được  nhiều vở hay nhưng quá  khích,  vì vậy sau mỗi lần diễn  cho đồng  bào xem đều  bị Diệm phát hiện  và rượt chạy ra khói lỗ đít” (nghĩa là chạy thục  mạng, chạy té khói) - cách  nói vui của ông Tư Xứng. Đọc xong thư của ông, anh  em trong  đoàn ai cũng  bùi ngùi  xúc động,  ai cũng  mong  muốn hy vọng sau hai năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất nước nhà  như  Hiệp định  Genève  ký kết.

Tập kết ra Bắc được  ba năm, soạn  giả Thanh Nha  luôn  nhớ  về quê  nhà,  bạn  bè. Qua ánh trăng  vàng đêm  thu, ông không  giấu được nỗi lòng nhớ bạn và ông đã viết bài vọng cổ “Đêm trăng  nhớ bạn”.  Thời đó còn nhiều khó khăn  giữa hai miền  Nam - Bắc thành ra ông viết bài ca xong phải  gởi qua  Đài Tiếng nói  Việt Nam.  Trong  Nam,  ông  Năm  Phàn  cũng nhận ra được tiếng  đàn  nhặt khoan quen thuộc của ông Ba Nha, ông rất cảm  động  luyến tiếc bữa chia tay hẹn  hai mùa  lúa trổ chim  sẽ quay về đồng  xưa, nhưng nay đã ba năm  mà Nam  - Bắc vẫn phân cách.  Hôm  nay dưới ánh  trăng  vàng, ngồi  dạo  lại bản  đờn  năm  ấy, người xưa không  thấy mà lẻ loi đàn  khảy một  mình.

Tập kết ra Bắc, chúng tôi mỗi người đi mỗi ngả. Được nhà  nước nuôi  dưỡng  và đào tạo, người trở thành kỹ sư, người trở thành bác sĩ. Riêng tôi, tôi vẫn làm công tác âm nhạc bởi với tôi âm nhạc là tâm  hồn,  là cuộc  sống  của tôi vì tuổi  thơ tôi đã gắn liền với tiếng  đàn, giọng hát của các anh  chị, cô chú trong  Đoàn  Văn công Ngũ Yến, nơi đã để lại cho tôi biết bao kỷ niệm  vui buồn.

Hiệp định Genève ký kết chỉ có hai năm nhưng trong thực tế đã hơn 20 năm chiến trường miền  Nam  vẫn luôn  rực lửa, một  cuộc  chiến  không  cân sức và đầy cam  go ác liệt. Để tiếp thêm sức mạnh cho đồng bào miền Nam, miền Bắc luôn là một hậu phương vững chắc, anh chị em miền  Nam  tập  kết ra Bắc thời đó đã rất nhiều người xin về Nam  chiến  đấu.  Trong đó có không ít các anh chị, cô chú trong Đoàn Văn công Ngũ Yến cũng đã vượt Trường Sơn trở về Nam,  tiếp tục hoạt  động  trong  lĩnh vực nghệ  thuật phục vụ cho chiến  trường  miền Nam như  soạn  giả Thanh Nha, nghệ  sĩ Hoàng  Sa,...

Cũng có một  số chú  bác khác  như  nhạc sĩ Lâm Quang  Minh,  nghệ  sĩ Ba Bằng, nghệ  sĩ Năm Bá, nghệ sĩ Tám Danh, nghệ sĩ Ba Du... Khi ra Bắc vẫn luôn gắn bó với Đoàn Văn công Nam Bộ. Họ là những trụ cột, là những nghệ sĩ nổi tiếng của Đoàn. Họ vừa là diễn viên, vừa là những người thầy đào  tạo nên  một  lớp diễn  viên mới cho Đoàn  như:  nghệ  sĩ Lê Hồng, nghệ  sĩ Năm Thanh Hương,  nghệ  sĩ Tú Lệ, nghệ  sĩ Kim Cúc...

Mặc dù đã cống hiến  sức lực của mình cho nghệ  thuật trên  đất Bắc nhưng các bác, các chú vẫn khao khát một ngày nào đó họ cũng như những anh em khác vượt Trường Sơn vào Nam chiến  đấu.  Ước mơ là vậy, khát khao là vậy nhưng thời gian khắc nghiệt, tuổi già sức yếu bệnh tật, tất cả đã quay  theo  một  quy luật mà tạo hóa đã ban  ra, nó không  cho phép họ thực hiện  được những mong  muốn của riêng mình.

Ngày 30 tháng 4 năm  1975, đại thắng mùa  Xuân, đất nước  thống nhất, Nam  - Bắc một nhà.  Gặp lại nhau sau  hơn  20 năm  xa cách,  giờ là những mái  đầu  đã bạc  hoặc  đã điểm muối  tiêu. Tay bắt mặt  mừng  ai ai cũng  vui mừng  xúc động.  Trước đây bùi ngùi buổi  chia tay người đi kẻ ở, nay gặp lại thương nhớ kẻ mất  người còn.

Những  tâm tư tình cảm xáo trộn này, tôi nghĩ không có bút mực nào viết hết, chỉ có điều những kỷ niệm  buồn vui trong cả chặng đường  dài lịch sử mãi mãi sẽ khắc sâu vào con tim khối óc của mỗi người chúng tôi, những người nghệ  sĩ của Đoàn  Văn công Ngũ Yến, tỉnh Long Châu  Sa (nay là tỉnh  Đồng Tháp).

Nhạc sĩ Cao Văn Lý (Cao Minh Đẳng) (Nguyễn Kim Cúc thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: