trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Một địa chí lịch sử - 100 ngày tập kết tại Cao Lãnh

Năm 1954, tập kết ở Cao Lãnh có quân đội và những người được tổ chức điều chuyển ở quanh vùng gồm cả tỉnh  Gia Định  - Tây Ninh  (tỉnh  Gia Định  Ninh).

Tôi thuộc về đoàn tỉnh  Gia Định  Ninh.  Đoàn  lên đường  từ sáng  sớm  ở một  cánh rừng huyện Châu  Thành, tỉnh  Tây Ninh.  Khoảng  trưa,  dòng  người lội qua  một  trảng  rộng lúp  xúp nước  với cỏ cọng  cao,  không  biết  có phải  là “đồng  chó  ngáp”  không,  vì rằng  đi qua trảng  xong ai cũng  uể oải cả. Tuổi trẻ 15-16 của tôi bước đi không  muốn nổi. Anh đội trưởng  dẫn đầu phải quay trở lại động viên khích lệ. Trời về chiều,  đoàn người vào đất Cao Miên vùng Mỏ Vẹt. Đội của tôi dừng chân tạm trú đêm  ở nhà một người dân Khơme. Ngày đầu  quá mệt  mỏi nên  ai cũng  nằm  lăn ra ngủ không  còn biết trời trăng,  nhưng chắc  đoàn có cử người cảnh vệ.

Sáng dậy, đã thấy trước nhà  một dãy bàn  thấp xếp dọc ở sân. Cơm đã dọn  sẵn, mùi gạo như  nếp  thơm ngon.  Chúng  tôi chuẩn bị hành trang  xong. Chủ nhà  mời người đội trưởng ngồi đầu,  chúng tôi ngồi dọc hai bên  dãy bàn.  Ôi! Có mùi  gì lạ khó ngửi từ đầu  dãy bàn? Mắm bò hóc, một loại mắm ăn của người Khơme, hôm  nay tôi mới biết mùi và đội trưởng được chủ nhà  đem  ra đãi khách quý. Chúng  tôi không  được thưởng thức. Nhìn đội trưởng ăn uống tự nhiên nói cười với chủ nhà tôi nhớ ra đội trưởng  là cán bộ hoạt  động vùng biên giới giữa tỉnh  Gia Định  Ninh  với Cao Miên nên  rất quen với tập tục của người Khơme.

Đoàn  người tiếp tục lên đường,  xuyên qua vùng Mỏ Vẹt. Người dân  Cao Miên đứng hai bên đường  xem rất đông.  Chiều đến, đoàn người đến sông Vàm Cỏ Tây, đi dọc bờ tả ngạn, xuôi dòng  nước.  Tối hôm  ấy và ngày hôm  sau,  đoàn dừng  nghỉ  ở nhà  dân.  Đội chúng tôi ở nhà  có hai mẹ con. Sáng dậy, đội trưởng  và tôi xuống  đến  nơi tập  trung người tập  kết ở bờ kênh  Dương  Văn Dương.  Dòng  sông  Vàm Cỏ nước  trong  xanh,  bầu  trời quang đãng, đội trưởng  cầm  mái chèo  ở mũi,  cô gái chèo  cầm  lái ở đuôi  xuồng,  tôi ngồi giữa nhìn hai bên  sông, dưới nước  dọc bờ đầy rong do những năm  tháng ngăn  sông, chống tàu địch để lại. Thỉnh  thoảng thấy anh  đội trưởng  quay mặt lại nhìn tôi mỉm cười. Tuổi trẻ của tôi còn ngây ngô, có để ý gì đâu.  Anh đội trưởng  đã cảm  nhận được  ý nghĩ  của  gia đình  hai mẹ con  bà chủ  nhà  khi tôi tặng  cô gái một  đồng  bạc  Đông  Dương,  tặng  vật kỷ niệm  của  má tôi cho tôi khi rời Sài Gòn vào chiến  khu. Tặng vật kỷ niệm  trước  khi chia tay với gia đình có gì đâu! Ai dè, ý nghĩa  lúc này khác rồi. Đến nơi, mang ba lô lên bờ vẫy tay chào  cô gái chèo  xuồng,  tôi bước  đi bình  thản. Ôi! Cô gái Đồng  bằng  sông  Cửu Long đó với bộ quần áo bà ba đen,  đầu đội nón  lá, tay cầm chèo  nhìn theo,  tôi nào có để ý. Bây giờ đã qua tuổi bảy mươi,  thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ  những ngày thân thương đó, nghĩ  không  biết  cô gái mà tôi chưa  kịp biết tên  sau đó thế nào,  bây giờ có còn ở bên  sông Vàm Cỏ? Cái anh  con trai miền  Đông này thật  ngây ngô đến  tệ! Nếu được gặp lại cô gái ngày ấy quả  thật  là một giấc mơ không  tưởng  nổi.

Bên bờ kênh  Dương  Văn Dương  những ngày tập  trung người  tập  kết thật  rộn  ràng,  bề bộn.  Người vào cánh đồng  đưng  cắt về lợp lán trại. Người lo đắp  nền  dựng  nhà.  Lán trại xong rồi, mỗi ngày hai buổi học tập Hiệp định  đình  chiến. Chiều đến, rất đông người ra bờ sông hóng  mát,  nhìn những chàng trai bơi lội hàng  cây số như con rái cá. Dân miền  Đông tụi tôi thấy mà mê, ít người biết bơi lội. Trời sắp tối, tôi đứng trước nhà nhìn ra sông. Những ai mặc quần cụt bị muỗi  cắn chỉ có lấy hai bàn  tay nắm  ống chân mà vuốt chứ không  đập hết. Thế mới thấy cái hay của chiếc “nóp”  miền  Tây.

Vào một  ngày, sáng  sớm  nhiều chiếc  đò đã cặp  bờ chờ sẵn.  Đoàn  người  xuống  đò nổ máy chạy thẳng ra kênh  Nguyễn  Văn Tiếp giữa Đồng  Tháp  Mười, chiến  khu kháng  chiến miền  Tây. Dòng kênh  đầy rong rêu, thỉnh thoảng phải  dừng  đò để thuyền viên lặn xuống gỡ rong quấn vào chân vịt.

Lên bờ Cao Lãnh, đoàn người tập kết tỏa ra tạm trú nhiều nơi. Đội chúng tôi ở nhà  một người dân  theo  đạo  Hòa Hảo. Sáng đến,  anh  nuôi  và tôi ra chợ (không  biết chợ nào  ở thị trấn  Cao Lãnh).  Nhìn  khắp,  sao mà thịt  chuột làm sẵn  sạch  trắng  nhiều thế! Mua về nấu gì ăn đây? Anh nuôi  chọn vậy.

Lo tổ chức  cho  đoàn người  xuống  tàu  chắc  bận  rộn  lắm,  kể cả đội trưởng  của  đội tôi. Còn chúng tôi chiều  ra con rạch  trước  nhà  tắm  rửa. Tôi người miền  Đông có biết lội đâu. Xuống nước,  quơ tay, quậy  chân cho nổi để quen dần.  Gần chiều  tối, đội trưởng  giao cho tôi công văn chuyển cho đơn  vị đóng  dọc con rạch.  Tôi xuống  xuồng  tam  bản,  cầm  chèo, chèo một cái bên này, đầu xuồng lướt qua bên kia. Bí quá! Biết làm sao đây? Nghĩ không  ra cách chèo.  Tôi đành cứ thế mà chèo.  Xuồng ngoằn ngoèo  lướt tới. Rồi cũng đến nơi. Công văn chuyển xong, tôi quay  về theo  cách  chèo  cũ. Trời đã tối, chủ  nhà  còn thức,  hỏi thăm và bồi dưỡng  chuối cho chú nhóc  liên lạc.

Sáng hôm sau, tôi lại chèo xuồng đi đưa công văn. Xong đâu đó, làm vệ sinh nơi ở, chuẩn bị hành trang lên đường ra cầu bắc Cao Lãnh chờ xuống tàu chiến Pháp đưa ra Ô Cấp (Vũng Tàu) lên tàu  biển.  Chiếc tàu  “mặt  dựng”  chạy đêm  đến  sáng  tới Vũng Tàu. Một chiếc  tàu hàng  Pháp  đã bỏ neo đậu chờ sẵn ở vùng biển  Ô Cấp. Tàu này vừa chở tù Côn Đảo ra Bắc trao trả rồi quay lại chở người tập kết chuyến đầu tiên ở bến Cao Lãnh. Đoàn người lần lượt bước  theo  cầu thang lên tàu.  Xung quanh mặt  biển  mênh mông, phẳng lặng, nước  trong xanh.  Theo chuyến tàu này có bác gái vợ Bác Tôn Đức Thắng  và khoảng 20 nữ.

Vào khoảng chiều,  tàu nổ máy hướng  ra Bắc. Nhìn vào bờ thấy xa dần,  xa dần.  Ôi! Lòng bâng  khuâng làm sao! Xa quê  nhà  rồi! Kia là cửa sông Lòng Tàu, còn kia mờ mờ là Ô Cấp. Máy tàu  biển  chạy  xình  xịch, đều  đều.  Chiều  mát,  ăn  bánh mì, phần ăn  mang theo  của đoàn, xong nhiều người  lên mặt  boong hóng  mát,  nhìn trời biển.  Anh đội trưởng  và tôi lấy võng ra tìm chỗ treo  nằm  nghỉ. Gần chập  tối, xa xa thấy hai chiếc  tàu biển  mang theo quốc  kỳ Liên Xô và Ba Lan hướng  vào Nam tiếp nối chuyển người tập kết ở bến Cao Lãnh.

Qua đêm,  sáng  trời còn  đẹp,  về chiều  sóng  bắt  đầu  cao, gió thổi  mạnh. Chiều  tối, tàu chạy vào vùng có bão. Mưa mỗi lúc một nhiều. Sau tàu nổ máy, tiếp tục hành trình ra Bắc.

Khoảng hai ngày sau, vào đêm tàu thả neo ở ngoài khơi Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nơi đón tiếp người tập kết ở miền  Bắc. Đứng trên  boong tàu, nhìn vào bờ đang  sáng ánh  đèn.  Một chiếc tàu “mặt  dựng”  Pháp  chạy nhanh hướng  ra chiếc tàu biển.  Bác gái vợ Bác Tôn được đưa xuống tàu vào bờ ngay trong đêm để ra Hà Nội. Thầm nghĩ, chắc Bác Tôn lúc này không sao ngủ được, bởi đã bao năm  rồi, hai Bác có gặp nhau đâu.

Lên bờ, đoàn người chia nhau về đơn  vị tiếp đón.  Tôi tuổi 15-16 thuộc lớp học trò, tập trung về lán trại nhỏ  tuổi. Ở nơi đón  tiếp dưỡng  sức một  ngày. Đêm ngủ, trại chúng tôi có cô bảo  dưỡng  chăm sóc, đắp  lại chăn cho bé nào  đạp  xuống  đất.  Thật  một  sự chăm nom thân thương làm sao! Những  người làm ở nơi đón  tiếp rất nhiệt thành nhưng có lẽ không khỏi lo lắng ở nhà  cơn bão vừa tràn  qua Thanh Hóa thiệt  hại ra sao...

Những  ngày sau,  chúng tôi được  sắp xếp vào lớp học trường  Học sinh  miền  Nam  tạm lập ở các thôn xã thuộc huyện Quảng  Xương, tỉnh  Thanh Hóa. Học sinh tạm  ở nhà  dân.

Từ đây, tuổi trẻ miền  Nam tập kết ra Bắc bắt đầu  cuộc sống trên  đất Bắc. Với tầm  nhìn xa, Bác Hồ giao cho Chính  phủ  tổ chức  hàng  vạn tuổi trẻ được đi học thành tài, chuẩn bị cho ngày về Nam xây dựng  quê hương.

Như cố Thủ tướng  Phạm Văn Đồng  nói: “Việc thành lập hệ thống các trường  Học sinh miền  Nam trên đất Bắc là một chủ trương  lớn, có ý nghĩa  cực kỳ quan trọng,  không  chỉ thể hiện  tầm  nhìn, cách  nhìn rất sáng suốt,  sâu rộng mà còn nói lên tình  cảm  cao quý thiêng liêng của Bác Hồ, của Đảng  và Nhà nước  ta cũng  là Tổ quốc  và nhân dân  ta với các cháu miền  Nam lúc bấy giờ”.

“Có thể nói, đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu  vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng,  Nhà  nước  và nhân dân  miền  Bắc đã dành cho  miền  Nam  từ những ngày gian khó ấy, nay đã mang lại hiệu quả rất to lớn cho đất nước” (Tháng  5 năm  1999 - Phạm Văn Đồng).

Sáu mươi năm  sau ngày tập kết ở bến Cao Lãnh, những mái đầu xanh ngày nào bây giờ đã là ông bà với nhiều con cháu.  Thế hệ thời ấy sắp qua hết, thế hệ mới đang tiếp nối. Còn đó bến  Cao Lãnh 100 ngày tập kết vẫn là một  địa chỉ lịch sử với non  sông đất nước.

Lê Văn Chắc

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: