trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Nhớ một buổi sáng

Tôi là lính  hóa  chất,  nhồi  lắp vũ khí đơn  vị Đại đội 1023, Trung  đoàn 115. Bộ phận cuối cùng  sửa chữa nhồi  lắp hoàn tất đạn  dược, chất  nổ cung  cấp cho chiến  trường, làm thủ  công.  Đơn vị sản  xuất từ viên đạn  súng  ngắn  đến  trái thuỷ  lôi, đánh chìm tàu chiến  của Pháp  trên  sông Sở Thượng,  lấy được khẩu đại bác 90 ly và nhiều quân trang, quân dụng.

Năm 1951 lấy tên Công binh  xưởng (BCX) “B”, Liên xưởng Đồng Tháp  Mười. Năm 1952 lấy tên BCX “B”, Liên xưởng Long Châu Sa (Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc). Năm 1953, tôi được chuyển về công tác công trường  Cao - Lai - Châu (Cao Lãnh, Lai Vung, Châu Thành).

Năm  1954, được  đơn  vị cử đi học,  tôi học  thợ  nguội.  Trường  chuyên nghiệp Mỹ Tho đóng  ở nội Đồng  Tháp  Mười dọc theo  bờ sông  Vàm Cỏ. Nói trường, thật  ra là những căn nhà đưng, nhà tranh, cột tràm  do cán bộ nhà trường  hướng dẫn học viên cất. Mỗi nhà cách nhau thật  xa đề phòng sự đánh phá  của giặc. Dưới tàn cây, lùm cây rậm che trên,  kín dưới quanh năm. Dọc theo mé sông lục bình, rau muống, cỏ... kết thành bè dày đặc, trên bờ cây tạp,  dây leo, cỏ dại mọc  bít bùng.  Tàu giặc dưới sông  nhìn lên không  thấy,  máy bay giặc trên  không  nhìn xuống  không  phát hiện  được. Đêm đêm  đốt đèn  dầu  cá nhân lờ mờ ngồi học, đập  muỗi,  sáng ra đồng  bắt cá, hái rau.

Đồng Tháp Mười lớn lắm, rộng mênh mông  ngó hết tầm mắt thấy chân trời chấn ngang thảm cỏ xanh  vô tận,  như  nhìn ra biển  khơi vậy. Cỏ, sậy, đế mọc  khỏi đầu,  Tây bố chui xuống  cỏ là xong. Tây đi qua  chui  ra tiếp  tục làm việc, học tập.  Mùa khô cỏ cháy cả ngày cả đêm,  chỉ có mưa mới dập tắt được. Năm Thìn 1952, bão lụt nước dâng lên khỏi ngọn  cỏ, ngọn  sậy như  biển.  Tàu Tây chạy vô đồng  bố như  chạy dưới sông  để tìm diệt  bộ đội Việt Minh,  các cơ quan kháng  chiến.

Đồng Tháp  Mười được thiên nhiên ưu đãi, thức ăn có sẵn quanh năm, mùa  nước có cả lúa trời, mùa  khô cá dồn  xuống đìa ăn móng  như cơm sôi, nước mương, rạch tanh mùi cá. Có những đám  đế, đám  sậy, cò đẻ trứng  không  biết  làm  gì cho  hết.  Nhờ vậy, hàng  ngày chỉ cần có gạo là được. Và mỗi người tự túc ba tháng lương thực  một  năm  cũng  không  có gì khó khăn.

Thường  ngày hơn  bảy giờ sáng,  thầy Mừng mới đến  lớp. Bữa nào  đến  sớm là báo động Tây bố để học viên chôn  giấu đồ đạc, dụng  cụ học tập.

Sáng nay học viên còn đang ngủ say nghe tiếng thầy kêu, nghĩ ngay là thầy báo động Tây bố. Việc xảy ra thường xuyên  không  có gì lo sợ. Không ngờ những tiếng  tiếp  theo:  “Đình chiến, hòa  bình  rồi các em ơi!”. Không đợi trực nhật báo  thức  như  hàng  ngày, mọi người đồng  loạt tốc nóp,  dỡ mùng tuôn ra như  ong vỡ tổ chạy về phía  thầy!

Thầy đang  đứng  ở mũi  xuồng,  xuồng  còn  nguyên vẹn những dề lục bình  ngụy  trang. Thầy cột xuồng lên bờ đi thẳng vô lớp học. Tất cả học viên chạy theo đứng bao quanh thầy. Thầy nói: “Sau chiến  thắng Điện Biên Phủ buộc  Pháp  phải  ký Hiệp định  đình  chiến  với ta tại Genève,  Thụy Sĩ. Theo chủ trương  chung kể từ hôm  nay trường  không  dạy nữa. Các em tự thu  xếp, lo liệu trở về đơn vị của mình”.

Tiếng hoan hô, reo mừng,  tiếng bàn ghế, chén đũa, nồi chảo vang lên, thầy trò ôm nhau như cha con trong  gia đình  xa cách mấy chục  năm  mới gặp lại. Cuộc chia tay thầy trò thật ngắn,  không  liên hoan, không  trà bánh, chỉ lời chúc  sức khỏe, hẹn  gặp lại, cái bắt tay thật chặt,  mắt  ướt đỏ!

Cuộc  liên hoan mừng  hòa  bình, chia  tay bạn  bè kéo dài một  ngày,  một  đêm  bằng  rổ khoai lang, tiêu chuẩn tự túc ba tháng ăn một năm, theo  quy định,  lớp học trồng  chưa đến ngày đào.

Mặt trời mọc, cuộc chia tay giống như cuộc chia tay với thầy: Bắt tay thật chặt, ôm nhau không  muốn rời. Chúng  tôi lần lượt tủa ra đồng,  cỏ mọc lút đầu,  mỗi người một  hướng  đi về đơn vị. Căn nhà từ nay trống  vắng, im lìm hết tiếng giũa, tiếng cưa, tiếng đục, tiếng búa, tiếng nhỏ  nhẹ  của những chàng trai tuổi dưới hai mươi.

Sau bốn  ngày đi bộ tôi về đến  đơn  vị công trường  Cao-Lai-Châu đóng  ở Cái Mác. Ngày hôm  sau đến  gặp chú  Hội, Ban chuyên môn  Liên xưởng Long Châu  Sa đóng  gần cản  đất kênh  Nguyễn  Văn Tiếp xã Ba Sao, nhận nhiệm vụ mở vũ khí lấy vỏ đem  ra Hà Nội để triển lãm.  Sáng, bỏ xuống  xuồng  ba lá trên  chục  trái  nổ  đến  ngã  tư Thống  Linh mở.  Nơi đây không  có người, không  ai đi qua lại, ở rất xa dân  cư, nếu  có nổ không  gây thiệt  hại tài sản, tính  mạng của nhân dân.

Chỗ này không  có bóng  mát,  làm được hai ngày lưng phồng, rát không  nằm  ngửa được. Chiều  ngày làm việc thứ ba, nghe  tin anh  Sậm cùng  quê  hương  kênh  Thầy Lâm bị nổ trái chết  tại chỗ.

Một đêm  khó ngủ.  Ai cũng  mong  mỏi  kết thúc  chiến  tranh. Anh Sậm hưởng  hòa  bình được mấy ngày bị nổ chết.  Khi gia đình  được tin, buồn và đau khổ lắm! Nếu mình cũng số phận như anh Sậm, gia đình  cũng vậy thôi! Làm nghề hóa chất nhồi lắp vũ khí trong kháng chiến  có hai cái chết:

- Chết do bom  đạn  của quân thù.

- Chết do trái nổ không  kịp nháy  mắt,  mà mình đã biết và chấp  nhận!

Nhớ đến cái chết âm thầm không  nguyên vẹn,  lượm  từng miếng  thịt,  khúc  ruột...  của  các anh chôn trong nội đồng, không dân...  Còn ai biết? Một đêm  suy nghĩ  lung  tung,  không  thứ  tự, nhớ người sống, nhớ người chết.

Một buổi sáng uể oải sau một đêm khó ngủ, khi cầm trái vũ khí lên tay, sự uể oải tan  biến  mất. Nghĩ  ngay  đến  nền  đất  Thống Linh  bằng  phẳng không  có vật che chắn, nguy hiểm  không lường được. Nhưng  nhiệm vụ và cái chết  đã chấp  nhận, chỉ còn cẩn thận và cẩn thận để hạn chế rủi ro. Sáng nay, tiếp  tục xuống xuồng  bơi  đến  ngã  tư  Thống Linh, cột xuồng  mé sông hướng về  Cải  Vừng  nhưng vẫn  chưa tìm  được  cách  cứu  mình. Cầm trái địa lôi bước lên bờ, thấy bên kia có mấy gốc cây sát mé kênh Nguyễn Văn Tiếp. Thở phào nhẹ nhõm, có nổ gốc ô môi làm tấm chắn, chấp  nhận bỏ hai tay hoặc  cái gì nữa cũng được. Sự căng thẳng sống chết  nhẹ  như  bông.

Đơn vị chúng tôi đi tập kết ở trong  căn nhà  lá vắng chủ ở xã Hòa An. Nền nhà  và chung quanh nước  ngập  lênh  láng, việc đi lại bằng  cầu tạm,  xuồng,  bè chuối. Vì cận ngày xuống tàu đi tập kết phải  lo đan  nón,  may áo nón,  may túi đựng  cơm khô... chỉ được đi chơi cho biết Cao Lãnh một ngày coi sân banh, lầu Mười Chuyển, tới nhà  thầy thuốc Lư, nơi chúng đốt  sống  người,  hình người in xuống  mặt  sân  xi măng. Đi cả ngày không  gặp được  người quen để nhắn tin về gia đình.  Sau bữa cơm chiều  coi như  chấm dứt hy vọng.

Nhà  có hai bộ ván, anh  em  chia  nhau nghỉ.  Bên ngọn  đèn  dầu  cá nhân leo lét để sắp xếp lại đồ cá nhân lần cuối. Đồ đạc tôi để nằm  gọn trong  ba lô, không  cần phải sắp xếp lại. Ngồi góc ngựa ngoài  chờ anh  em sửa soạn  xong mắc mùng ngủ. Nhìn  người đứng  gác tay cầm khúc cây, tay đập muỗi,  chân muỗi  cắn giơ lên để xuống mà làm bè chuối nhúc nhích gợn những làn sóng nhỏ  lăn tăn rượt đuổi  nhau vô bóng  cây biến  mất.

Nhìn  nước nhớ nhà,  nhớ lúc còn nhỏ  ôm chuối bơi lội, cút bắt dưới sông đã rồi lên bờ, nhớ bà ngoại ngồi bên khay trầu vừa ăn vừa kể chuyện. Việc ông ngoại phá rừng, khai hoang lập nghiệp, bà nói: Hồi xưa, ở đây rừng sát mé sông Cái, chỉ có thú  rừng, không  có người. Khi ông ngoại  đến  đây phá  rừng khai hoang lập nghiệp chỉ có con đường  đi của thú  rừng lên xuống sông Cái uống nước. Con rạch chạy quanh co đầu xuống sông như con rồng con bú vú mẹ, còn cái đuôi  nằm  ở đâu  không  biết. Mùa mưa  thành nước  chảy xuống  sông rất xiết, mỗi năm  càng sâu và rộng ra. Những  người lập nghiệp dùng  nó làm phương tiện lưu thông trong cuộc sống. Khi nước nổi dùng xuồng vận chuyển thay sức người đội, gánh, vác. Dân cư đến phá rừng lập nghiệp ngày càng đông thêm. Đường nước cong queo  hai bên cây cỏ mọc  um  tùm  che  chắn không  thấy  phía  trước.  Xuồng đi ngược  chiều  hay đụng  nhau. Không biết từ ai bày ra hai tiếng quát  và cạy. Khi nghe  “cạy” người đi ngược chiều  phải  đi bên phải  của mình và ngược lại khi nghe  “quát” người đi ngược chiều  phải  đi bên trái của mình, nhờ  vậy mà  tránh được  tai nạn.  Từ đó có cái tên  rạch  ngã Cạy. Rạch ngã Cạy dần sâu hơn,  rộng  hơn  ghe đi lại được,  có người kêu sông ngã Cạy (lớn hơn  Rạch). Nhưng  khi đào kênh  Thầy Lâm chặt mất khúc đầu, đào mương lớn chặt khúc đuôi, chỉ còn khúc giữa.

Đang tiếc rẽ con rồng uốn  lượn thật  đẹp  bị chặt  đầu,  chặt  đuôi,  tôi nghe  tiếng  kêu hỏi: “Ở đây có ai tên  Du không?”  Miệng  la có, chân tôi bước  xuống  cầu  tạm  đi về phía  người gác. Chiếc xuồng vừa cập cầu, thấy má, quai hàm  tôi bị khóa chặt! Đứng nhìn má mà nước mắt tuôn ra! Má biểu đem chè xôi nước mời anh em ăn cho vui. Tôi mới hỏi gom được một câu má, ba, gia đình,  bà con có khỏe không? Má ngồi xuống,  tôi ngồi cầu tạm  hỏi hết việc này đến việc khác. Tây bố đốt nhà cháy hết đồ đạc. Mấy tuần nay lính Hòa Hảo bỏ bến bắc bên  Cao Lãnh kéo cả gia đình  vợ con qua  ở dài theo  mé sông cầu bến  bắc bên  mình, bây giờ đi đâu, làm gì cũng sợ. Gà gáy hiệp nhất má nói: “Để má về qua sông cho kịp phiên chợ sáng, tránh sự dòm  ngó của giặc”.

Má về, tôi vô mùng không  sao ngủ được, hình ảnh  của má già trước tuổi, đen,  ốm, một mình bơi xuồng cả ngày đêm  không  biết mấy cây số, giờ một  mình bơi về trong  lo sợ! Nồi chè  xôi nước  má  không  có tiền  mua  đường,  phải  chặt  mía  ép lấy nước  nấu.  Sự cực khổ trong  chiến  tranh chồng chất  lên má, má không  nói, sợ mình buồn lo. Suốt đêm  bên  má, nhiều lúc thấy  má buồn lắm, nhưng không  thấy  nước  mắt,  có lẽ đã chảy hết  vào lòng để cho mình yên tâm  đi tập kết.

Lệnh chuẩn bị ăn sáng đi hành quân, mọi suy nghĩ tan biến  mất.  Đơn vị tập hợp đường đất xã Hòa An. Hai bên đường  để thật  nhiều lá lợp nhà  đã chằm rồi. Dân cư ở rải rác, cách xa xa mới có một  nhà  lá, sân rất rộng, nhà  nào cũng  có cây vườn bao quanh. Đơn vị hành quân đi hết đường đất, lên đường nhựa, rẽ phải ra bến bắc. Mặt đường rất nhỏ, chân đường rất rộng, đường  cao, hai bên  trồng  lúa xanh mướt,  thỉnh thoảng có những liếp chuối nằm ngang,  dọc  trong  đám  lúa. Theo  đường,  từng  tốp  người  vẫy tay chào  rồi cùng  đi với đơn vị ra bến  bắc Cao Lãnh. Ở đây thật  đông  người, không  biết đến  từ hồi nào? Tàu chưa  đến, lệnh tan hàng  chờ tàu. Tức khắc bộ đội cùng bà con hòa lẫn nhau thành từng tốp hội ngộ, giao lưu. Anh em có gia đình  thăm, được  thăm thêm lần cuối nữa.  Bà con từ các nơi đến được  biết  có cả thân nhân đi lính  cho  Pháp,  lính  Hòa Hảo có dịp tiếp  xúc với Việt Minh. Cuộc hội ngộ rất ngắn  nhưng cũng giải tỏa được sự nghi ngờ, nghĩ không  tốt về Việt Minh. Cử chỉ rụt rè, sợ sệt chuyển sang tình  cảm chân thật,  chất  phát. Hình  ảnh  anh  bộ đội Việt Minh  đã thấm vào máu  và tim của mỗi người. Khi lệnh  tập hợp, cuộc  chia tay thật  nhanh đã nói  lên điều  đó: bắt  tay, ôm  nhau không  muốn buông ra. Kẻ ở người  đi cùng  giơ hai ngón  tay vẫy chào  ngầm hẹn  hai năm...

Đại tá Nguyễn Lê Du

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: