trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Những tháng năm không quên

Vì sợ gia đình  bị liên luỵ do ông già tôi tham gia cùng  bà Sáu Ngài cướp chính quyền ở Sa Đéc nên  kẻ địch trong  vùng đều biết và đã có lần bị bắt. May mắn  nhờ dân  giải thoát, ông già tôi tính  đưa gia đình  từ Cao Lãnh  qua  Cao Miên  sinh  sống  tạm.  Ghe tam  bản  của gia đình  cột vào tàu Công Voa (Pháp). Chạy một  đoạn, tới làng Hòa Hảo (đối diện  Hồng  Ngự) thấy không  yên tâm,  ông già bèn  cắt dây tấp  vô đây trú ngụ tạm,  sau đó chuyển gia đình  qua  Hồng  Ngự để gia đình  ở lại sinh  sống,  còn ông thoát ly đi hoạt  động cách  mạng (Ông già tôi là Nguyễn  Văn Sáng lúc ấy là Hội trưởng  Công giáo Kháng chiến thuộc Mặt trận Liên Việt). Nơi đây người dân bản chất cũng yêu nước nhưng bị tuyên truyền xuyên tạc nên  căm thù  Cộng sản, không  tin vào Bác Hồ.

Xoay quanh chuyện cự cãi có phải Bác hay không,  nhà tôi cũng bị tôi làm cho một phen hết hồn.  Đó là khi mới 9-10 tuổi bà già dẫn  tôi đi chợ mua  đồ, thấy một đám  đông  xúm lại quanh cổng  chợ. Hai mẹ con tới gần xem thì thấy  trên  vách nhà  có dán  hình Bác Hồ ốm nhách như  cái ống sậy, hai tay cầm hai khúc xương bắt tréo tay, đầu  máu  chảy ròng ròng. Do đã được  ông già tôi chỉ cho biết Bác Hồ qua  đồng  tiền  có in hình Bác, tôi buột miệng nói: Ông này không  phải  Bác, Bác Hồ rất đẹp.  Một số người quay  lại nhìn lom lom, cũng may lúc ấy không  có thằng địch nào đứng đó, má tôi hết hồn,  vội bịt miệng  rồi lôi tôi chạy lẹ. Về tới nhà  bà dặn  đi dặn  lại tôi không  bao giờ được nói như  vậy nữa, chúng nghe  được sẽ bắt giam cả nhà.

Hồng Ngự nơi tôi ở trước khi đi tập kết ra Bắc thuộc vùng “da beo” tranh chấp  giữa địch và ta, cách  bên  này và bên  kia sông. Buổi tối ghe người dân  chuyển từ vùng sông bên  này qua phía bên kia (bên địch). Sáng quay về bên ta làm ăn: đánh cá, đóng đáy. Án ngữ bên kia sông là một bót cực kỳ quan trọng,  chấn giữa Ngã 3 Sông Cái (là 1 nhánh sông Sở Thượng), chặn đường ra vào giữa ta và địch, rất khó tiêu diệt. Từ đầu xã Thường Lạc ra tới bót khoảng 4 cây số đi theo  đường  đồng  tới bờ sông.  Cho nên  việc qua  lại sông  rất nguy  hiểm,  quân ta khó thâm nhập qua  bên  kia sông để tiếp  cận  Hồng  Ngự. Bọn lính kiểm tra dân  qua  lại sông rất gắt gao. Tôi là trẻ con, việc qua lại sông địch ít để ý, không  như  người lớn. Lúc ấy khoảng 11-12 tuổi,  tôi được mấy chú  trinh sát chọn dẫn  đi trinh sát bót Ngã 3 Hồng  Ngự. Chập  tối tôi dẫn  cả nhóm theo  ghe người quen quá giang qua sông rồi nằm  trong  ghe đợi đêm xuống tiếp cận mục tiêu cần trinh sát, sau đó rút êm về ghe để sáng hôm sau về lại bên kia sông - bên  ta. Gần sáng  anh  em quay  ra bờ sông trà trộn  theo  ghe của dân  trở lại bên kia sông an toàn.  Có lần tôi còn dẫn  quân đi mua  dụng  cụ y tế chuẩn bị chiến  dịch Đông Xuân 1953, anh  em mua  được thuốc tây phục vụ cho cả chiến  dịch...

Ông già tôi cũng đưa tôi theo  cơ quan ông hoạt  động.  Vì vẫn còn nhỏ  nên  tôi được mấy chú giao cho làm công tác văn thư, liên lạc trong  nội bộ các cơ quan Công giáo, Nông dân cứu quốc,  Phụ nữ cứu quốc.  Sau gia đình  khó khăn  tôi trở về nhà.  Năm  1954, đình  chiến, ông già đang học chính trị quán triệt việc ở lại do ông Ba Duẩn giảng, tôi ở xã Thường  Lạc, huyện Hồng  Ngự thì có người cùng  đơn  vị ba tôi đến  thông báo  tôi được chọn đi tập  kết. Tôi vô cùng  sung  sướng  và được biên  chế vào Trung  đội E, Đại đội 961 thuộc Trung  đoàn Long Châu Sa đóng tại xã Hòa An chờ ngày xuống tàu. Ở đây lớp con nít, liên lạc các đơn vị, tuổi cở tôi được phân về Trung  đội E khoảng hơn  70 người. Tôi chung đơn  vị với Lâm Tới (sau này trở thành nghệ  sĩ nhân dân), ông ấy là tiểu đội phó. Lúc ấy ông Lý, ông Đẳng, ông Hội ở Đoàn Văn công Ngũ Yến, hay biểu diễn ở Cao Lãnh cho bộ đội, cán bộ xem văn nghệ.

Chúng  tôi được dẫn ra thăm mộ của Cụ Nguyễn  Sanh Huy, thân sinh ra Bác Hồ. Tôi nhớ đó chỉ là ngôi mộ đất bình thường như bao ngôi mộ khác ở xã Hòa An, nằm một mình ở trên liếp, sau này ra Bắc tôi mới biết ngôi mộ nằm  trên  đất nhà  ông Lê Văn Năm (sau ông Năm là Kiến trúc sư trưởng, thành phố  Hồ Chí Minh).  Trước khi xuống tàu, tôi được gặp má tôi và bác Ba gái tới thăm, nói chuyện. Bà còn xin phép chỉ huy cho tôi cùng  gia đình  ra Cao Lãnh chụp vài tấm ảnh  làm kỷ niệm.  Trước khi chia tay má tôi còn cho tôi một chiếc khăn rằn,  chú  Bảy tôi gởi cho một  áo mưa,  một  đôi dép  mủ,  trung đội cấp cho mỗi người một nón  nan,  một  bộ đồ đồng  phục bộ đội màu  xanh  rêu, được  phát bánh tổ đem  xuống  tàu ăn nữa. Tới ngày đi bà còn tiễn đưa xuống tàu há mồm của Pháp.  Chúng  tôi hành quân bộ từ xã Hòa An ra bến  Bắc cũng  mất  cả mấy tiếng  đồng  hồ. Trước đó, hàng  ngày chờ xuống tàu,  cả trung đội ngày nào  cũng  được  tập  hành quân đi tới đi lui nên  đi bộ hành quân ra bến  Bắc rất nhẹ  nhàng, quen rồi.

Là trẻ  con  nên  trung đội  tôi được  mọi  người  rất  thương yêu, ai cũng  cưng  chiều.  Đi chuyến này có rất nhiều trẻ con.  Trước khi chúng tôi xuống  tàu,  có ông kỹ sư tên  Nhâm xuống  kiểm  tra máy móc  tàu  và bác  sĩ Hưởng  (sau  là Bộ trưởng  Bộ Y tế) xuống  xem tình hình sức khỏe anh em. Chỉ có hai ông tiểu đội trưởng  và phó là lính chính quy có đeo súng dài. Cán bộ trung đội trở lên có súng  ngắn  còn  đa phần không  có súng.  Trên  đường  tàu chạy ra Ô Cấp một số anh  em không  bị say sóng trong  đó có tôi được mấy chú ưu tiên cho trèo  lên boong tàu  nhìn lại lần cuối  quê  hương. Tàu Pháp  rất thấp so với tàu  Liên Xô. Ở dưới tàu Pháp,  cả tiểu đội được chỉ huy sanh  hoạt  trước: Khi sóng ào lên thì chân bên phải phải  bước nhanh qua trước khi sóng xuống và khi bước chân qua tàu Liên Xô phải  bỏ dép, đi chân đất  đề phòng trượt  chân xuống  biển  vì sàn  tàu  rất trơn.  Không ngờ sàn  tàu  bằng sắt, dưới cái nắng  gay gắt gần trưa  nên  rất nóng.  Chúng  tôi dù còn  nhỏ  nhưng khi chạm chân xuống  sàn  tàu  nóng  giãy như  muốn bỏng  da, cắn  răng  cũng  chỉ dám  xuýt xoa, hít hà chớ không  ai kêu la, rất trật tự, thể hiện  tư thế của những người chiến  thắng. Tàu chạy trên  biển  chúng tôi được xem phim Liên Xô. Tôi còn nhìn thấy trên  tàu  xuất hiện  một  bà người Liên Xô cỡ trên  dưới 40 tuổi, rất hiền,  vui vẻ, đi tới đi lui phục vụ trên  tàu khi chúng tôi đang  xem phim, tôi gọi là bà mẹ Liên Xô.

Ra Bắc sau khi kiểm tra sơ bộ kiến thức  tôi được xếp vào lớp 2 được về các trường  Học sinh miền  Nam 27, rồi 14, qua 24, sau là trường  Bổ túc Công Nông Trung ương Hà Nội. Lúc ấy Bác Hồ giao cho các trường  Học sinh miền  Nam đào tạo nguồn cán bộ cho miền  Nam. Sau khi tốt nghiệp cấp 3 tôi được qua Liên Xô học ở trường  Đại học Tổng hợp, ngành hóa học. Năm 1967 về nước tôi được phân công về dạy ở trường  Đại học Mỏ địa chất. Năm 1971 trở qua  làm  nghiên cứu  sinh  ở Lomonoxop Liên Xô lần nữa.  Thời gian  làm  luận  án phó tiến sĩ ở đây tôi có đóng  góp vào đề tài nghiên cứu phức  chất,  được trao giải đồng của gian hóa học của Viện hàn  lâm Liên Xô được tổ chức hàng  năm  trong  triển  lãm thành tựu kinh tế quốc  dân  Liên Xô năm  1973. Năm  1974 về nước,  tôi được  điều  về Viện Kỹ thuật Quân sự - Tổng cục Kỹ thuật là phó  tiến sĩ (sau đổi thành tiến sĩ), Phó ban  vật liệu của Viện. Đề tài đầu tiên tôi được giao là Chế tạo vật liệu chuẩn bị giải phóng Trường Sa, Hoàng  Sa. Rồi tiếp  theo,  trong  chiến  dịch  Hồ Chí Minh  là thành viên tiếp  quản đầu  tiên  các cơ sở khoa học Mỹ - ngụy (như  Trung  tâm  máy tính,  Trung  tâm  ấn loát ấn phẩm, căn cứ DOW - CIA, là cơ quan tình  báo Mỹ), sau đó giao lại cho những cơ quan chuyên môn. Sau khi bàn  giao ở Sài Gòn xong, tôi được  giao tiếp  quản Lò Hạt nhân Đà Lạt rồi quay  về Phân  viện Năng lượng thuộc Viện Kỹ thuật Quân  sự - tiền thân Viện Nguyên  tử Quốc gia ngày nay, từng là Trưởng phòng Hiếm  xạ.

Ai cũng  biết, sau ngày miền  Nam  giải phóng, đế quốc  Mỹ tuy đã cuốn xéo hết về nước nhưng chúng đã để lại vô vàn những kho bom  đạn,  pháo, chất  nổ khắp  miền  Nam.  Lúc ấy tôi là Phó Giám đốc Trung  tâm  phân tích hóa lý quân đội, chủ nhiệm đề tài: Phân  tích, đánh giá chất  lượng thuốc phóng, thuốc nổ từ Quân  khu 5 đến  Quân  khu 7, Quân  khu 9, xử lý toàn  bộ năm  sáu chục  tấn  phốt pho  của Mỹ để lại và toàn  bộ súng  cối, đạn,  pháo ở kho Long Bình. Chúng  tôi tháo  ngòi từng viên đạn  pháo, lấy mẫu  thuốc kiểm tra xem chất lượng,  nếu  chất  lượng  kém  đem  đi tiêu  huỷ,  số còn  tốt  lấy phốt pho  trắng  ra khỏi  đạn, chuyển phốt pho  trắng  sang  phốt pho  đỏ chế  thuốc trừ sâu,  axít photphoric, phân bón phốt phát. Chúng  tôi xử lí đạn  dược  photpho trong  kho quân đội và cả những nguồn từ người dân  thu  gom được.

Đã gần 60 năm  qua rồi từ ngày tôi bước chân xuống tàu tập kết nhưng chúng tôi không bao giờ có thể quên được những năm  tháng sôi sục, hào hùng  của cả dân  tộc trong  những ngày ấy. Từ anh  học  trò lớp 2, ra miền  Bắc tôi được  Nhà  nước  quan tâm,  đào  tạo  để trở thành tiến  sĩ, thượng tá Quân  đội Nhân dân  Việt Nam.  Được là giảng viên trường  đại học ngoài miền  Bắc từ khi còn rất trẻ và sau giải phóng miền  Nam, kịp có mặt trong đoàn quân đầu  tiên về tiếp quản những cơ quan đầu  não  quan trọng  của Mỹ-ngụy,  chúng không  kịp phá  hoại và công việc quan trọng  nhất, có ý nghĩa  nhất trong  cuộc đời tôi, đó là góp phần mình cùng  đơn  vị xử lý kho đạn  phot-pho khổng  lồ kẻ thù  để lại, góp phần vào thực  hiện mục  đích  không  tàng  trữ vũ khí hóa  học  của  Liên hiệp  Quốc.  Ta yêu cầu,  Mỹ cũng  điều một số đoàn vào Việt Nam nhưng họ đưa các điều kiện kỹ thuật phức  tạp một thời hạn dài mới xử lý được.  Thế mà  chúng tôi, những nhà  hóa  học  Quân  đội Nhân dân  Việt Nam  đã làm được  những điều  không  tưởng  đó. Cám ơn Đảng,  Bác Hồ đã cho chúng tôi có cơ hội tốt học tập,  rèn luyện  trưởng  thành vững vàng để trở về phục vụ miền  Nam  sau ngày rời bắc Cao Lãnh xuống tàu tập kết.

Thượng tá Nguyễn Hữu Trí (Minh Nhật thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: