trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Nỗi lòng người ra đi

Từ khoảng đầu năm  1950 đến  năm  1953 chiến  trường  Nam Bộ diễn  biến  vô cùng  gay go và ác liệt. Lúc đó chủ  trương  của  tướng  Na-Va dùng  chiến  thuật vết dầu  loang, cho quân đi ruồng bố ngày đêm  và nhảy  dù đóng  bót, co cụm lại gần hết khu căn cứ Đồng Tháp  Mười của ta.

Đứng trước tình  hình khẩn  cấp ấy Trung ương ra lệnh  tất cả các chiến  trường  trên  toàn quốc  phải  hưởng  ứng chiến  dịch  Điện  Biên Phủ  để phân tán  lực lượng  địch.  Nhận được lệnh  trên  thì toàn  thể  quân dân  Nam  Bộ đồng  loạt  đứng  lên hưởng  ứng triệt  để. Ta liền mở ra nhiều chiến  dịch,  chiến  trận  lớn nhỏ,  có lúc ngày đêm  ta tiêu  diệt  hàng  chục  đồn bót giặc. Với khí thế chiến  thắng oai hùng  và vĩ đại của chiến  dịch  Điện  Biên Phủ,  đã tác động  rất lớn đến tinh  thần binh  lính địch, bọn  chúng vô cùng  hoang mang và hoảng loạn. Có số bỏ đồn  bót về nhà  làm ăn, có số phản chiến, không  dám  đi ruồng bố như trước nữa.

Vùng giải phóng mới ta mở rộng thênh thang tứ phía, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp bầu trời những vùng ta vừa giải phóng được.  Với tinh  thần chiến  đấu  quả  cảm  của chiến  sĩ ta ngày đêm hăng say tiêu diệt giặc trên khắp các chiến  trường. Ta đang chiến  thắng địch như thế chẻ tre, ta xung phong vào đồn  bót địch  như  nước  tràn  về, chiến  công  nối tiếp  chiến công vang dội, ngoài công tác chiến  đấu, ta còn dùng công tác binh  vận để làm tan rã hàng ngũ địch và lôi kéo chúng về hàng  ngũ của ta.

Khắp các chiến  trường  trên  toàn  quốc  ta đang  chiến  thắng như  vũ bão cơ hội thuận lợi ngàn  năm  có một không  hai đến với ta tại sao ta không  nắm  lấy. Riêng về tinh  thần của bộ đội lúc đó rất cao chỉ còn chờ lệnh  tổng phản công nữa mà thôi.

Vào một  buổi  chiều  đầu mùa  thu  tháng tám,  bỗng  dưng  có lệnh  của cấp trên  tất cả các chiến  trường  trong  toàn  quốc  phải  ngưng  tiếng súng  để thi hành Hiệp định  Genève.

Từ các chiến  trường, bộ đội ta hành quân tập trung về căn cứ cũ ở giồng Sa Rài và giồng Dứt Gò Suông để học tập các điều khoản ký kết trong  Hội nghị Genève  mà ta và địch phải thi hành, đồng  thời cũng  chờ ngày quy định  để ta ra tiếp thu  Cao Lãnh. Hòa bình  vừa vụt đến  đột ngột,  nỗi vui mừng  chưa  xiết thì nảy sinh  nhiều tư tưởng  thắc  mắc,  lo âu của các chiến  sĩ ta mà trước mắt  không  giải đáp  được.

Vui mừng vì hòa bình rồi không còn đi kháng chiến gian khổ và chết chóc như trước nữa. Nỗi thắc  mắc lớn nhất của các chiến  sĩ vì sao ta đang  thắng lợi lớn trên  khắp  chiến  trường mà phải  ngừng  lại để ký Hiệp  định  Genève  chia đất  nước  ra làm hai miền  và nỗi đau  lớn nhất là phải  lấy sông Bến Hải làm ranh giới tạm  chia hai miền  Nam  Bắc. Có lẽ ta còn yếu thế về mặt  nào  đó nên  ta phải  nhân nhượng với kẻ địch  một  số điều  khoản trong  việc ký kết Hiệp  định  chăng?  Mọi sự thắc  mắc  lo âu đều  phải  dẹp  qua  một  bên  để chờ ngày tiếp thu  Cao Lãnh sẽ học tập và tìm hiểu  thêm.

Một buổi  chiều  mùa  thu  tháng tám  nắng  vàng vừa dịu mát,  chiến  trường  đã yên tiếng súng khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực thì xuất hiện cánh quân lớn từ xã Mỹ Ngãi tiến về Cao Lãnh với đội ngũ chỉnh tề và trang  nghiêm. Đơn vị ấy chính là Tiểu đoàn 311 bộ đội chủ lực của tỉnh  Long Châu  Sa được vinh dự tiếp  thu  vị trí tập  kết đầu  tiên,  đi đầu  là quân kỳ của tiểu đoàn gắn nhiều huân chương đỏ chói lấp lánh tung bay trên bầu trời Cao Lãnh, với chiến  công lớn nhất vang dội khắp  toàn  quốc  là đánh chiếm một  chiến  hạm  lớn nhất của Pháp  ở Đông Dương trên  sông Sở Thượng,  thu  được cây súng  90 ly và nhiều vũ khí khác.

Đoàn  quân tiến đến  đâu  cũng được nhân dân  tưng bừng  chào  đón  và reo vui như  ngày hội. Khi đoàn quân tiến  vô nội thành có số ít người còn nghi ngờ nhìn bộ đội đi qua  xem có giống như  lời tuyên truyền của giặc: “Việt Minh  là quỷ dương  nên  chân chúng đi khỏi mặt  đất từ năm  đến  bảy tấc”.

Khi tiếp  thu  lầu Mười Chuyển và Dinh  quận xong ta liền thành lập Ban quân quản để tiếp xúc với nhân dân và tổ chức đội trật tự vệ binh  bảo đảm  an ninh cho vùng tập kết. Sau đó ta công  bố miễn  mọi thứ thuế và góp chợ hàng  ngày nên  nhân dân  các giới vui mừng phấn khởi tổ chức lại việc mua  bán  nhộn nhịp phồn thịnh hơn  thời Pháp  chiếm đóng  rất nhiều. Đơn vị còn triển  lãm vũ khí mà ta mới tịch thu  được của giặc trong  các chiến  dịch vừa qua  để đồng  bào  hàng  ngày  đến  xem. Ai ai cũng  vui mừng  phấn khởi được  tận  mắt thấy  sự lớn mạnh của quân đội ta. Khi xem có người còn chạm vào các loại vũ khí để tin điều đó là thật  và để khẳng  định  lời tuyên truyền của Pháp  là sai sự thật  “Việt Minh có rất ít vũ khí, đa số chỉ là vũ khí giả”.

(...)

Đơn  vị còn  tổ chức  từng  tổ “tam  tam  chế”  ba người  để đi vào cơ sở nhân dân  tuyên truyền đường  lối chính sách  của Đảng  và chính phủ  ta trong  thời gian tiếp  thu  Cao Lãnh cùng  các điều khoản ký kết trong  Hiệp định  Genève  qui định  mà ta và địch phải  thi hành. Bộ đội ta đi đến  đâu  cũng  được bà con cảm mến  mừng  rỡ tiếp đón  ân cần, tình  quân dân như  cá với nước,  có nhiều đồng  bào còn đem  tiền  và vàng bạc hoặc  nhiều sản vật quí giá để ủng hộ cho Chủ tịch Quân  quản, góp phần nuôi  bộ đội, giải quyết  khó khăn  cho chính quyền mới tiếp thu. Nhưng  chủ trương  của ta lúc đó tuyệt  đối không  nhận bất cứ vật chất gì dù lớn hay nhỏ  của đồng  bào  ủng hộ bộ đội. Đồng  thời, ân cần  giải thích  rõ cho đồng bào biết đường  lối chủ trương  của Đảng và Chính  phủ  để nhân dân đỡ thắc mắc và vì đồng bào sống trong vùng tạm chiếm của giặc nên sưu cao thuế nặng đã chồng chất bao đời nay, giờ hòa bình  lập lại tất nhiên đồng  bào phải  được hưởng  tự do hạnh phúc.

Về tình  hình chiến  trường  khi Hiệp  định  Genève  được  ký kết và thời  điểm  ngừng  bắn có hiệu  lực, khi ban  hành lệnh  ngừng  bắn  nói chung quân đội ta thực hiện  rất triệt để chỉ có bên  địch không  chấp  hành đúng  mà thôi, vì chúng cho rằng chính phủ  Pháp  ký kết với Việt Minh thì Pháp  thi hành còn quân đội Bảo hoàng, Hòa Hảo, Cao Đài không  ký kết nên không  cần  thi hành. Do đó, đêm  đêm  tiếng  súng  của họ vẫn bắn  ra ngoài  thường xuyên, tình hình và âm mưu của địch luôn luôn lúc nào cũng ngoan cố nên mới có luận điệu tuyên truyền “các chuyến tàu đi tập kết trước bị chúng rút lù tàu chìm  hết sạch rồi”. Nghe tin ấy các gia đình có con em chuẩn bị đi tập kết hoang mang, lo lắng, không biết nếu cho con em mình đi ngày mai số phận sẽ ra sao? Một số ít gia đình  kêu con ở lại không  đi tập kết nữa.

Cao độ hơn nữa là ngày đêm chúng luôn rình rập để ám sát cán bộ chiến  sĩ ta, khi chiến sĩ ta đi tiêu chúng đâm  chết  một  người. Có lần biểu  diễn  văn nghệ  tại chợ Sáu Quốc Hòa An, tin mật của nhân dân ta cho biết chúng đi ba bốn xuồng từ Lấp Vò qua để liệng lựu đạn phá  hoại, nhưng ta canh phòng rất cẩn mật nên  chúng không  thực hiện  được. Về công tác Đảng, công tác tư tưởng vô cùng quan trọng và khẩn trương, ta củng cố lại các tổ chức Đảng vững mạnh để lãnh đạo quần chúng an tâm tư tưởng chấp  hành lệnh chuyển quân tập kết.

Địa điểm  đóng  quân cuối cùng  khi xuống  tàu tập kết là rạch  Xép Lá xã Hòa An. Đơn vị tôi phổ  biến  trước  cho anh  em phải  chuẩn bị đầy đủ và thật  gọn gàng để ngày mai hành quân xuống  tàu  tập  kết. Suốt đêm  ấy giữa đồng  bào  và bộ đội không  ai ngủ được  vì phải chuyện trò và lưu luyến bịn rịn để rồi mai đây từ giã kẻ ở người đi. Tình cảm nhân dân thật vô cùng đậm  đà. Khoảng 3 giờ đêm  ngày 14 tháng 10 năm  1954 được lệnh ban  chỉ huy cho tập  hợp  các đơn  vị thành hai hàng  dọc  theo  đường  để từ giã đồng  bào  lần cuối  và hành quân xuống tàu tại bến  bắc Cao Lãnh.

Bộ đội đi qua  đến  đâu  cũng  được  đồng  bào  tiễn  đưa.  Đơn vị tôi đi chuyến thứ  6 ngày 14 tháng 10 năm  1954 với hai chiếc  tàu  loại LST chở 1.100 chiến  sĩ Tiểu đoàn 306 và Tiểu đoàn 311 còn  lại. Khi xuống  tàu  chiến  sĩ chỉ được  đem  theo  ba lô nhỏ  đựng  được  vài bộ đồ của gia đình  cho vì lúc đó bộ đội không  có lương bổng  gì cả. Mỗi người một  cây súng nhưng không  phát đạn  theo,  trang  phục đơn  vị phát cho mỗi người một  bộ đồ may theo  kiểu đồ tây có quai  đĩa bằng  vải 11 nhuộm rau dừa và bùn  màu  xám, đầu  đội nón  nan  có bao lưới bên ngoài, trước nón  có gắn quân hiệu thêu bằng  chỉ vàng, đa số đi dép. Thức ăn đem  theo  là bánh tổ của các mẹ, các chị làm cho, mỗi người một  hộp  sữa đã luộc chín  để ăn cầm hơi vì khi đi tàu bị say sóng nên  không  ăn được đồ ăn như trên bờ. Nước uống trên tàu có dự trữ nước ngọt, sinh hoạt  trên  tàu cũng khá chật chội và nóng  bức nhưng anh  em trật tự và đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, người say sóng ít giúp đỡ người say sóng nhiều. Trên tàu  lúc nào  địch  cũng  căng thẳng với ta, chúng không  cho lính người Việt nói chuyện với ta. Khi tàu  chạy qua  thành phố,  làng mạc  có đông  dân  cư chúng không  cho  ta đưa  cờ ra đầu  tàu để đồng  bào ta trông  thấy mà tiễn đưa...

Lê Văn Hiệp

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: