trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Ông già ái binh

Tôi ở Đại đội 945 pháo binh  trợ chiến  (vũ khí mới - SSA, SSB, SKZ do Cục trưởng  Cục Quân  khí Trần Đại Nghĩa chế tạo) thuộc Tiểu đoàn 309 (chuyên bắn tàu và công đồn địch). Trong những ngày chuyển quân tập kết, đơn vị chúng tôi phải hành quân qua nhiều địa phương: từ huyện Mộc Hóa tỉnh  Long An - Sông Vàm Cỏ dọc kênh  Dương  Văn Dương,  kênh  Tháp  Mười đến  kênh  Nguyễn  Văn Tiếp, Mỹ An, Phong Mỹ... Lúc này, việc đi lại của người dân  từ vùng giải phóng ra vùng địch  kiểm soát  rất khó khăn,  nhất là qua  lại trên  sông  Tiền. Trong  đơn  vị, hầu  hết anh  em quê  các tỉnh  thuộc bên  này sông  Tiền (Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, Sài Gòn...), chỉ mình tôi ở mé bên kia sông Tiền (Vĩnh Long). Khoảng thời gian ấy có những kỷ niệm  đã theo tôi suốt những năm  tháng trên miền  Bắc và tới hôm nay ở tuổi 83, tuổi “gần đất xa trời”, tôi vẫn không thể nào quên. Ký ức ấy vẫn hằn sâu trong tâm  thức.  Một thời Cao Lãnh sôi động,  một  thời bộ đội tập kết!

Lúc bấy giờ nhân dân được sống trong  hòa bình  sau những năm  tháng chiến  tranh gian khổ nên  ai nấy đều  rất phấn khởi, niềm  vui hiện  rõ trên  gương  mặt.  Cha mẹ gặp con,  vợ gặp chồng, con gặp cha, người đang  yêu có nhiều tâm  sự... Tôi cũng  có tình  cảm  với một người con gái cùng quê, là mối tình đầu. Nhớ lại thời gian (7/1949),  tôi chiến  đấu bị thương khá nặng,  nghe  tin, cô ấy lo lắng, bồn  chồn, vì không  có điều  kiện vào vùng căn cứ kháng chiến  để trực tiếp chăm sóc, cô ấy đã mua  đường,  sữa, cam gửi cô em họ mang đến cho tôi bồi dưỡng.  Cô em tôi kể: “Chị ấy đang ăn chay để khấn vái Trời Phật cho anh mau lành vết thương”. Cảm động  trước tấm  chân tình  của người con gái đang  yêu, cô ấy còn rất trẻ, tôi lại đi tập kết không  biết có trở về sau hai năm  không  hay nhiều hơn thế nữa.

Khi đơn  vị về Mỹ An đóng  quân trên  bờ kênh  Nguyễn  Văn Tiếp, một  số thân nhân của chiến  sĩ quê  ở các tỉnh  Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Sài Gòn tới thăm rất đông.  Họ đi bộ và đi xuồng  “ba lá”, mỗi xuồng  chở khoảng ba đến  bốn  người. Anh Danh - một  đồng  đội quê  ở Sài Gòn, có vợ con và một  số cháu  là học sinh,  sinh  viên cũng  tháp tùng  vào chiến khu  xem  bộ đội.  Họ tỏ vẻ thích  thú,  có những câu  hỏi  rất  thú  vị như  “thành  luỹ ở chỗ nào?”, “Chiến khu  ở đâu?”, anh  em phải  tìm cách  giải thích:  Vì đặc thù  của chiến  trường Đồng bằng  sông Cửu Long, hay còn gọi là “chiến khu bưng biền”,  khác với các vùng miền Trung, miền Bắc có rừng núi, hang động lập căn cứ, chiến khu. Còn ở Đồng bằng sông Cửu Long, căn  cứ, thành luỹ vững chắc  là “lòng dân”,  dân  tin, dân  che chở cho bộ đội... Qua trò chuyện với người  thân của  anh  em từ thành phố  xuống,  nhất là học  sinh,  sinh  viên, trí thức, chúng tôi mới hiểu trong  suy nghĩ, hình dung  của họ thì “bộ đội Việt Minh” sống khổ cực, ăn đói mặc  rách,  người ốm yếu. Chắc họ đã hiểu  được bộ đội thời kỳ ấy rất khó khăn,  trên  chỉ cấp lương thực  chín  tháng gồm gạo, khoai  lang và củ mì, ba tháng còn lại anh em phải tự túc, trồng  lúa, khoai, rau, mò cua bắt ốc và ăn độn các loại rau sẵn có trên đồng  ruộng như  bông  súng,  bông  điên  điển,  tai tượng...  Nhưng  tất cả chúng tôi đều  vui vẻ, sẵn sàng chấp  nhận mọi thiếu thốn, một lòng theo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.

Ngoài anh  Danh và nhiều anh  em khác, anh  Trương cũng có mẹ từ Bến Tre lên tìm con. Bà ở cả tuần. Khi mẹ gặp con,  bà mừng  mừng,  tủi tủi. Hai mẹ con trò chuyện rất nhiều... chuyện riêng tư của họ anh  em trong  tiểu đội không  tò mò. Nhưng  đến  khi bà oà lên khóc nức nở, chúng tôi mới hỏi. Bà nói: “Xa con lâu quá, tới hai năm lận!” - Hồi đó hai năm  là lâu rồi vì con đi kháng chiến đằng đẵng, giờ hòa bình gia đình chỉ mong được sum họp. “Tôi xin cấp trên cho nó ở lại”. Ban Chỉ huy đơn  vị giải thích  “đi hai năm  sẽ trở về, ra Bắc được học tập, được nâng cao trình độ, sau này về tiếp quản chính quyền” nhưng bà không thông. Cuối cùng anh  Trương với giọng cương quyết:  “Con bây giờ không  còn là con riêng của má, mà là con của Nhà nước!”. Bà lặng người một  hồi và hình như  đã hiểu  ra được điều gì đó... Để động viên bà, chúng tôi đã an ủi: “Đây là thắng lợi của kháng chiến, đi tập kết để tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà”, bà mới yên tâm để con đi tập kết. Hai năm  đối với bà đã là lâu, nhưng bà và chính những người trong cuộc như chúng tôi cũng không ngờ thời gian xa cách lại lâu và lâu đến như  thế, không  phải  hai năm  mà gấp hơn mười lần con số hai năm! Sau này, với những năm  tháng trên  miền  Bắc, tôi không  thể tưởng  tượng  được bà đã phải mòn mỏi, trông ngóng tin con như thế nào trong suốt một thời gian dài - hai mươi mốt năm!

Một buổi  chiều,  đơn  vị hành quân tới Phong Mỹ, đóng  quân trong  nhà  dân,  người dân coi bộ đội như  con  em mình, vui vẻ, niềm  nở và xưng hô rất thân mật,  tự nhiên. Những người lớn tuổi  (đáng  tuổi  cha chú)  thì “mầy tao” rất gần gũi, giản dị. Tiểu đội tôi ở trong nhà bác Ba, trạc tuổi 50, nhà hơi nhỏ không  đủ chỗ cho cả tiểu đội 12 người. Bác che thêm rạp trước  sân và trải đăng  ra nền  đất làm chỗ ngủ cho chúng tôi. Chúng  tôi áy náy không dám  dùng.  Vì nguồn sống chính của gia đình  là làm ruộng và đi đăng  bắt cá, tôm để ăn và bán  (đăng  là một  phương tiện  đánh bắt tôm,  cá phổ  biến  của người dân  Đồng bằng  sông Cửu Long), nhưng bác  Ba sẵn  sàng  đem  ra lót cho  bộ đội ngủ.  Anh em tìm cách  từ chối, nhưng bác Ba ra lệnh:  “Tao bảo là phải  nghe, xương  máu tụi bây không  tiếc, tao chỉ 5 - 7 tay đăng nhằm nhò gì? Phải giữ gìn sức khỏe để còn chiến đấu lâu dài nghe hôn”. Rạp che xong, đăng  đã trải sẵn  trên  nền  đất,  không  còn  cách  nào  từ chối  tấm  chân tình  của  chủ nhà,  anh  em chúng tôi đành phải  chấp  hành “mệnh lệnh”  của bác Ba.

Tuy mới tiếp xúc, nhưng cả gia đình  bác Ba tiếp đón  chúng tôi rất ân cần, chu đáo, coi anh  em như  con cháu  đi xa về. Những  ngày trú quân trong  nhà  bác Ba, bác gái và các anh chị con của hai bác cũng  rất vui vẻ, niềm  nở, chân tình.  Ngày nào  gia đình  bác cũng  cho anh  em tiểu  đội thức  ăn tươi như:  tôm,  cá (gia đình  bắt được),  rau xanh  trong  vườn,... và tạo điều kiện tốt nhất có thể cho chúng tôi - những người lính Cụ Hồ còn nhiều thiếu thốn, nhưng tinh  thần thì dư dả! Anh em ái ngại không  nhận, rồi bác Ba lại “ra lệnh!”, chúng tôi buộc  phải  “chiều  theo  ý” của chủ nhà.

Thời gian ở nhà bác Ba không  lâu lắm nhưng cũng đủ để chúng tôi cảm nhận được tình cảm  của  gia đình  dành cho  bộ đội - tình  cảm  quân dân  cá nước.  Nghĩ lại càng  thấy  dân mình tốt quá! Đi tới đâu,  bộ đội cũng được tiếp đón,  giúp đỡ, đùm bọc. Thầm  nghĩ những người lính Cụ Hồ như chúng tôi khi bước chân xuống tàu đi tập kết phải cố gắng làm được điều  gì đó cho  dân  mình. Những  ngày tháng được  bác  Ba và gia đình  giúp  đỡ, chúng tôi không  khỏi bồi hồi xúc động.  Anh em ngồi nói chuyện vui với nhau mới đặt  tên  cho  bác Ba là “Ông già ái binh”  (tức thương lính).

Cạnh  nhà  “Ông già ái binh”  có dì Tư Nương  - một  người  phụ  nữ Cao Lãnh  đôn  hậu. Trong  những ngày tập  kết ở đây, tôi và một  số anh  em không  liên lạc được  gia đình  nên lãnh  đạo  đơn  vị trích  quỹ do bán  trại Tăng gia có được  cấp  cho mỗi người  100 đồng  tiền Đông  Dương  để may  đồ mặc  đi tập  kết, vì quần áo nhiều năm  đi kháng  chiến  cũ, rách. Thấy tôi không  có người thân tiễn  chân, biết được hoàn cảnh của tôi, quê  ở bên  kia sông Tiền, lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ,  có ba anh  em đi kháng  chiến  hết trơn,  mỗi người một  nơi, không  biết còn sống hay đã hy sinh? Nên dì hỏi rồi trầm  ngâm nói: “Con hổng còn cha mẹ, vậy làm  con nuôi  dì đi”. Tôi vô cùng  xúc động  và cảm  thấy rất vui, vui vì được  người dân cảm thông với hoàn cảnh của mình, vui vì được làm con nuôi  của dì. Không chần chừ, suy nghĩ gì nữa, tôi nhận ngay “nếu được vậy con rất mừng, cám ơn má!”. Dì Tư biết được ngày 14 tháng 10, đơn vị tôi xuống tàu nên  khoảng 11 giờ ngày 13 tháng 10, gia đình  dì làm bữa cơm, hay có thể nói là tiệc liên hoan để đãi cả tiểu đội trước ngày chia tay. Hôm đó có Hội Mẹ chiến  sĩ đến  dự và cho chúng tôi rất nhiều quà,  bánh, trái cây.

Đối với tôi, tấm  lòng của người  dân  Cao Lãnh  trong  những ngày chờ xuống  tàu  đi tập kết không  bao giờ phai  mờ trong  tâm  trí. Tôi luôn ghi nhớ những tình  cảm, nghĩa  cử người dân đã dành cho mình và đồng đội trong  suốt những chặng đường  đã qua... Sau ngày miền Nam  hoàn toàn  giải phóng, Bắc Nam  thống nhất, tôi đã trở lại nơi đơn  vị đóng  quân năm xưa nhiều lần để tìm “ông già ái binh”,  tìm người mẹ nuôi và thăm lại bà con - những người đã từng đùm bọc, giúp đỡ bộ đội trong  những ngày tập kết. Nhưng  mọi thứ đã thay đổi quá nhiều, người thì qua  đời, người thì chuyển đi nơi khác, hỏi thăm nhưng không  ai biết. Chỉ biết dì Tư đã qua đời do bệnh, còn gia đình  đi đâu  không  rõ. Thị trấn  Cao Lãnh, tỉnh  Long Châu  Sa ngày nào  và thành phố  Cao Lãnh  tỉnh  Đồng  Tháp  hôm  nay khác  xa nhau hoàn toàn.  Nếu như cách đây gần 60 năm, thị trấn  Cao Lãnh chỉ mấy mươi căn nhà  thấp thoáng thì nay, nhà tầng mọc lên san sát, đường phố láng nhựa thênh thang, xe cộ qua lại tấp nập... Tất cả đã “thay da đổi thịt”. Không tìm được bà con năm xưa đã hết lòng vì bộ đội, vì anh em chúng tôi, tôi chỉ còn biết đi chậm rãi lang thang trên  đường  phố  Cao Lãnh để ngắm nhìn thành phố  trẻ đang  vươn mình phát triển,  thăm lại bến sông Cao Lãnh, nơi diễn  ra sự kiện lịch sử mang đậm dấu ấn một thời sôi động - dấu ấn tập kết - cách đây gần 60 năm  về trước!

* * *

Riêng đối với người con gái thuở  nào đã dành tình  cảm cho mình “hẹn  ngày về khi đất nước  độc lập”, nhưng lời hẹn  đó mãi mãi chỉ là lời hẹn  bởi người  Nam  kẻ Bắc, bởi chiến tranh!  Thầm  cảm ơn người ấy, tôi đã làm bài thơ Không đề:

Biết yêu từ thuở  trăng tròn

Hồi còn tóc kẹp lòn thòn  bờ vai

Xa nhau từ bấy đến nay

Tóc em hiện đã ra dài đến đâu?

Chín năm kháng chiến gian lao

Hẹn ngày độc lập “trầu cau thiệp  mời”

 Nhưng chưa về được em ơi!

Anh còn tiếp bước theo cờ đấu tranh!

Cầu mong  vết thương  mau lành 

Cơm chay một  tháng  mà anh  hiểu nào

Đêm nằm em mãi  ước ao

Đánh  thắng  giặc Pháp, Việt Nam yên bình

Đến khi em được nghe tin

Pháp thua phải  ký hòa bình  Đông Dương

Vậy là giặc Pháp hết đường

Âm mưu tái chiếm  Việt Nam không  còn.

Em ơi, nước chảy đá mòn!

Chuyện xưa kể lại... hồi còn tóc xanh

Hai mốt năm... tại chiến tranh

Phân chia Nam,  Bắc ta đành... vô duyên!

Giờ thì ai nhớ, ai quên?

Riêng anh  nhớ mãi...  tóc huyền vai em!

Phạm Hồng Thái (Ngô Thị Thuỷ thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: