trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Tập kết ra Bắc

Đầu năm 1954, Tiểu đoàn 309 được lệnh vượt lộ Đông Dương về giúp bộ đội địa phương Chợ Gạo, Gò Công và Châu  Thành diệt  và bức rút hàng  loạt lô cốt, đồn  bót,  đánh tiếp viện giải phóng nhiều xã trước đây là vùng địch hậu,  tạm  chiếm.

Sau chiến  thắng “vang  dội  địa  cầu”  ở mặt  trận  Điện  Biên Phủ  (7/5/1954), tình  hình Nam Bộ nói chung và ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công không  khí vui tươi tràn  ngập  ở các vùng căn cứ. Việc qua  lại lộ Đông Dương,  ra vào Đồng Tháp  Mười dễ dàng  hơn trước.  Bà con ở vùng phía  Nam lộ 4 (cùng  là cách gọi lộ Đông Dương,  lộ 16A) vào Đồng Tháp  Mười nườm nượp.  Họ vào tiếp tế cho kháng  chiến. Họ vào trị bệnh. Lúc bấy giờ ở các vùng căn cứ của ta (Đồng  Tháp  Mười, U Minh)  có phong trào  cấy Phi-la-tốp (Philatov) của bác sĩ Nguyễn Thiện  Thành được lan rộng và tin tưởng.  Chẳng  những cán bộ, chiến  sĩ và đồng  bào vùng căn cứ được trị bệnh và tăng cường sức khỏe bằng  phương pháp y học tiên tiến này mà cả đồng bào vùng ngoài (chỉ vùng tạm chiếm, địch hậu) cùng vào vùng trong (vùng giải phòng, vùng căn cứ của ta nhất là Đồng Tháp  Mười) để được cấy phi-la-tốp.

Bọn giặc Pháp  bị thua đau,  nhưng cái nết vẫn không  chừa,  vẫn cố bám  cái đầu  óc hiếu chiến  của quân xâm lược. Ở Nam Bộ chúng cố mở vài trận  càn quy mô nhỏ  và vừa vào các căn cứ kháng  chiến  của ta để vớt vát uy tín với đồng  bào vùng địch hậu,  vùng tạm  chiếm. Chiến  trường  Mỹ Tho, ta đánh hai trận  trước và sau Hiệp định  Genève  trên  kênh  Chợ Gạo (ngày 24 tháng 6 năm  1954) và ở Mỹ Tịnh An (ngày 02 tháng 8 năm  1954) và đã thắng lớn, ghi dấu  chiến  công oai hùng  của bộ đội ta trong  lòng nhân dân  vừa được giải phóng.

Để quán triệt  chỉ thị của cấp trên,  chuyển quân đúng  thời gian quy định  ở khu tập kết 100 ngày, Tỉnh đội Mỹ Tho tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi về các huyện thuộc tỉnh  Mỹ Tho - Tân An - Gò Công để tuyên truyền, phổ biến tinh  thần Hiệp định  Genève,  chỉ thị của Hồ Chủ tịch và của Trung  ương Đảng,  Chính  phủ  về các chủ trương, chuyển hướng  công tác cho thích  hợp  với tình  hình mới cho cán bộ, chiến  sĩ và đồng  bào,  đưa các đơn  vị bộ đội địa phương về tập  trung ở Đồng  Tháp  Mười trước  khi đến  tập  kết ở Cao Lãnh. Đoàn  cán bộ về Chợ Gạo và Gò Công có tôi và vài đồng  chí ở Ban Chính  trị, Ban Tham  mưu  Tỉnh đội Mỹ Tho.

Năm  giờ chiều  ngày 01 tháng 8 năm  1954, chúng tôi vượt lộ Đông  Dương  gần bót Tân Hiệp,  vượt sông  Bảo Định  về xã Phú  Kiết. Từ đây về nhà  của tôi ở chợ Bến Tranh (Lương Hòa Lạc, Chợ Gạo) không  bao  xa, thấm thoát đã hơn  5 năm  từ ngày tôi đi kháng  chiến  ở miền  Đông, tôi chưa  gặp lại một  lần nào  những người thân thiết  của tôi. Không biết hiện giờ họ có mạnh khỏe và sống ra sao trong vùng tạm chiếm của giặc Pháp? Chúng tôi về nghỉ đêm  ở nhà  dì Năm (tôi quên mất  tên của dì) là em ruột  của cậu Tư Trang (nhà  viết tuồng cải lương nổi tiếng ở Sài Gòn, ông Trần Hữu Trang trong  kháng  chiến  chống Mỹ là uỷ viên Uỷ ban  Trung  ương Mặt trận  Dân tộc Giải phóng miền  Nam,  là Hội trưởng  Hội Văn nghệ Giải phóng miền  Nam). Ông Tư Trang là cậu họ của tôi. Đêm hôm  đó ai cũng ngủ li bì sau một  ngày hành quân vất vả, chưa  đến  5 giờ sáng  hôm  sau (02 tháng 8 năm  1954) pháo từ Bến Tranh bắn vào Phú Kiết và Mỹ Tịnh An. Dì Năm gói cho mỗi người một gói bánh hỏi và thịt quay hối thúc  chúng tôi ra đi. Dì nói: “Các con đi về phía  Mỹ Tịnh An nhập với bộ đội mình đi, ở đây không  ổn!”. Chúng  tôi nghe  rõ tiếng xe nhà  binh  chạy trên  lộ Đông Dương rầm  rập  hướng  về Tịnh  Hà. Đúng  là giặc Pháp  định  bao  vây bộ đội ta đang  đóng  quân ở đây trước khi về tập trung ở Đồng Tháp Mười. Ở hướng  bến Tranh, bọn giặc đang kéo vào, chúng tôi tiến nhanh vào chợ Nhựt  Tiên, nhập vào Đại đội 940 của Tiểu đoàn 309. Bộ đội ta quần nhau với địch suốt ngày trên  các cánh đồng,  bờ ruộng. Trận đánh cuối cùng trước khi tập kết chuyển quân, Đại đội 940 đã diệt gọn một Tiểu đoàn BVN ở Bến Tranh (sau này tôi nghe  má tôi nói lại) bắt sống và làm bị thương gần 200 tên, thu  nhiều súng  đạn.

Đêm  hôm  đó, không  khí chiến  thắng tràn  ngập  xóm làng. Bộ đội hân  hoan, đồng  bào hả dạ. Đồng  bào  nói: “Bọn Pháp  không  ngờ đụng  phải  chủ  lực của ta. Chúng  định  vô ăn tươi nuốt sống du kích và bộ đội Chợ Gạo, trả thù  những trận  thua đau  trước đó ở An Lục Long, Thạnh Phú Đông, kênh  Chợ Gạo...”.

Sáng hôm  sau, đoàn chúng tôi về Huyện đội Chợ Gạo và Huyện đội Gò Công. Lượt về là những ngày đáng  ghi nhớ  trong  đời tôi: vui mừng  - quyến luyến  - chia tay giữa bộ đội và đồng bào sau những ngày ngắn  ngủi chiến  thắng, giải phóng rồi tạm biệt, xa cách, biết bao giờ gặp lại nhau. Trong sự xúc cảm ấy, má con tôi gặp lại nhau tại chợ Mỹ Tịnh An trước khi tôi về Đồng Tháp  Mười. Có ngờ đâu,  đây là lần cuối cùng  tôi gặp má tôi sau những tháng ngày tôi đi kháng  chiến  và đi tập  kết ra miền  Bắc. Sau chiến  thắng mùa  Xuân 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn  miền  Nam, tôi trở về nhà. Má tôi đã đi xa không kịp gặp lại tôi. Người đã đi gặp ba tôi từ cuối năm  trước.

Sáng ngày 11 tháng 8 năm  1954 (cùng  là thời điểm  ta ngừng  tiếng  súng  theo  Hiệp  định Genève), đoàn chúng tôi vượt sông Bảo Định và lộ Đông Dương trở về căn cứ Đồng Tháp Mười.

“Bảo định Giang, Bảo Định  Giang

Bến Tranh,  Phú Kiết, Tịnh  An, Thanh Bình! Con đi tạm  biệt quê mình

Sông xưa bến cũ, mái  đình, bờ tre

Con đi mang bóng mẹ già Con về mẹ đã đi xa xa rồi!... Làm sao gặp được mẹ ơi!...”.

Về đến  cơ quan ở xã Nhơn  Hòa Lập trên  kênh  Dương  Văn Dương,  chúng tôi được biên chế vào một  đơn vị đặc biệt ra Bắc sớm nhất để nhận nhiệm vụ mới.

Nhiệm vụ mới là gì? Không  ai biết  rõ. Chỉ biết  rằng,  chúng tôi phải  tìm  hiểu  kỹ lưỡng sâu sắc về cuộc  kháng  chiến  chín  năm  ở Nam  Bộ, đặc biệt là Đồng  Tháp  Mười, tất nhiên trong  đó có quân và dân  Long Châu  Sa anh  hùng.  Long Châu  Sa là phần đất của các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc nằm ở bên này sông Tiền. Đặc biệt, chúng tôi phải đi thực địa vẽ bản  đồ Đồng Tháp  Mười, nơi đánh dấu  những trận  đánh oai hùng  của bộ đội cách mạng “Mùa Thu rồi ngày hai ba... Nóp với giáo mang ngang vai, nhưng thân trai nào kém oai hùng...!”,  như  trận  Cổ Cò (Cái Bè - Mỹ Tho), trận  Giồng Dứa (Châu  Thành - Mỹ Tho), trận  Mộc Hóa (Tân An), chiến  dịch  Cao Lãnh  (Sa Đéc), trận  đánh sập cầu Bến Lức (Mỹ - Tân - Gò) v.v... Chúng  tôi phải đi “Ba cùng”, đến từng nhà dân tìm hiểu, ghi chép  lại những câu chuyện cảm động,  sâu sắc và không  kém phần oanh liệt của bà con Đồng Tháp  Mười trong  chín  năm  kháng  chiến. Từ Tân Khánh  - Cái Cái - Sa Rài - Sở Thượng  (huyện Hồng Ngự, Châu  Đốc), Cao Lãnh (Sa Đéc), Chợ Mới (Long Xuyên), Vàm Cỏ, Thủ Thừa (Tân An), kênh 12, kênh Dương Văn Dương, Nguyễn  Văn Tiếp, chùa  Phật Đá (Mỹ Tho), nơi đâu đồng bào vùng căn cứ Đồng Tháp  Mười cũng  giúp đỡ, ủng hộ kháng  chiến  hết mình: đào kênh Kháng chiến  vừa dẫn  nước  ngọt  vào đồng  xả phèn, cấy lúa tự túc lương thực,  nuôi  quân, vừa đắp bờ bao các kênh  làm công sự chống xe tăng, xe lội nước của giặc Pháp  khi vào căn cứ Đồng Tháp  Mười, đắp  cầu ngăn  tàu giặc, vót chông cắm ngoài  đồng  trống  chống quân Pháp  nhảy  dù... hoặc  khi bộ đội chống càn thì tiếp tế lương thực,  súng  đạn,  tải thương...

Nhiệm vụ thì lớn, trình độ ghi chép,  viết lách thì có hạn, thời gian thì quá gấp rút, chúng tôi phải căng mắt, vạch óc, sải tay, sải chân... mà viết, mà ghi, mà vẽ, mà chụp (chụp hình). May thay  trong  đoàn chúng tôi có một  số anh  lớn tuổi  nổi tiếng  về viết văn kháng  chiến (Văn Lê, Minh Đỗ, Hà Mậu Nhai, Tuấn  Phong, Thanh Vân), vẽ ký họa (Lê Vinh), phó  nháy (Lê Hưng).  Cuối cùng  chúng tôi cũng  thể  hiện  được  ý chí chiến  đấu  quật  cường  và tình thương mến  của đồng  bào và bộ đội ở căn cứ Đồng Tháp  Mười tại cuộc triển  lãm “Những hình ảnh  chiến đấu  và trưởng thành của Quân  đội Nhân dân  Việt Nam trong cuộc kháng chiến chín năm của dân tộc Việt Nam (9/1945 - 7/1954)” tại Hà Nội vào cuối năm  1954.

Nhiệm vụ đặc biệt  của  đoàn chúng ta là như  vậy (sau  này khi đặt  chân lên Sầm Sơn - Thanh Hóa mới biết rõ), chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một  cách  xuất sắc, được Bác Hồ khi đến  xem triển  lãm, Bác đặc biệt quan tâm  đến  phong cảnh và con người Nam  Bộ, cuộc chiến  đấu ác liệt của quân dân  Nam Bộ từ ngày đầu kháng  chiến  chín năm  (cho đến ngày kết thúc  chiến  tranh (11/8/1954). Bác dừng  lại rất lâu trước  tấm  hình “Bộ đội miền Nam xây lại ngôi mộ cụ Phó bảng”, nhiều lần Bác lấy khăn tay thấm nước mắt chảy dài trên hai gò má nhăn nheo, nhuộm nhiều phong trần,  khắc khổ.

Ngày 31 tháng 8 năm  1954, chúng tôi hành quân đến thị trấn Cao Lãnh, qua nhiều vùng, nhiều đồn bót, giặc vừa mới rút theo Hiệp định Genève. Đồng bào đứng dọc hai bên đường, hai bên kênh  từ Thiên Hộ, Mỹ An, Nhị Mỹ, An Thái Trung... đến An Bình, Mỹ Thọ, Thị trấn Cao Lãnh...  tiễn  đưa những đứa con thân yêu, anh  chị em ruột  thịt của mình ra đi, ngoài mặt  thì vui mừng  nhưng trong  lòng thì biết  bao  nỗi niềm  khắc  khoải.  Lúc ấy, tôi còn  rất trẻ, ra đi chỉ biết hớn hở, mới lạ (chỉ có hơn 700 ngày thôi mà, rồi sẽ trở về gặp gỡ lại nhau trong  ngày Tổng tuyển cử thắng lợi tháng 7 năm  1956). Tôi làm sao hiểu được tâm  tư, tình cảm của những anh,  chị lớn tuổi hơn tôi, khi ra đi họ để lại biết bao nỗi lo âu, thương nhớ trong  lòng người thân của mình. Cho nên  trong  rừng người tiễn biệt, kẻ ở người đi xen lẫn tiếng  vui cười, chúc  mừng  nhau có những cánh tay giơ cao với vuông  khăn  trắng,  những dãy khăn  rằn,  những ánh  mắt  thân thương đẫm  lệ. Dẫu biết  rằng  “Đi là vinh  quang, ở là anh  dũng”, nhưng làm sao ngăn  được nỗi đau  đớn,  nhớ  nhung, lo âu trong  lòng của kẻ ở người đi? Một nửa ra đi, một  nửa còn lại sẽ sống và chiến  đấu  ra sao đây?

Đến thị trấn  Cao Lãnh, chúng tôi rất đỗi vui mừng  trong  không  khí hân  hoan chào  đón của bà con ở đây. Chỉ có thắng to Điện Biên Phủ, có thắng lợi ở Genève  mới có không  khí tưng  bừng  này.  Cờ đỏ sao  vàng,  banderole treo  khắp  nơi “Đồng bào Cao Lãnh  nhiệt  liệt hoan  nghênh cán bộ, bộ đội chiến thắng!”, “Nam Bộ là máu của Việt Nam,  là thịt  của Việt Nam!”, “Đi là vinh  quang, ở là anh  dũng!”...

Chúng tôi được bố trí đến đóng quân tại làng Hòa An, phía bên kia sông Cao Lãnh, trong một  xóm nhà  sàn. Bà con ở đây nghèo lắm, nhưng có tấm  lòng rộng mở, chưa  bao giờ bà con gặp nhiều “Anh lính  Cụ Hồ” như  vậy. Bọn Pháp  đã từng rêu rao, xuyên tạc: “Lính Việt Minh  ốm cà tong cà teo, mười  người trèo lên đeo vào tàu đu đủ cũng không  gãy”... Chúng nói xấu chúng tôi nhiều lắm. Giờ đây gặp gỡ những người lính Vệ quốc đoàn vừa đánh giặc Pháp  tơi bời, bà con vừa thân mật,  vừa ngỡ ngàng  với cái tác phong gần gũi và kính trọng dân.  Vì vậy, bà con đặc biệt dành cho chúng tôi chỗ ăn nghỉ rộng rãi và sạch  sẽ trong  căn nhà  trên  mặt  nước  quá  hẹp  của mình. Từ cái ăn, cái mặc  đến  cái ngủ  của chúng tôi, các

má, các chị chăm sóc chu đáo. Các anh,  các em mỗi khi ra đồng  đánh bắt được con cá to, con tôm bự,... đều đem  đến nhờ các chị chế biến thật  ngon  để cùng anh  em Vệ quốc  đoàn chung vui, bà con không câu nệ đã dành cái buồng nhỏ của gia đình  làm “Căn buồng hạnh phúc” cho các chị từ xa đến  thăm chồng. Các em thiếu nhi, thiếu niên  thì được chúng tôi dạy hát những bài ca cách  mạng, ngợi ca người lính, yêu mến  Bác Hồ:

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh  hơn chúng  em nhi đồng

Ai yêu Thiếu  niên  nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”.

...

“Đoàn giải phóng  quân  một  lòng ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về...”.

Ngày đêm  tiếng  hát,  nhịp vỗ tay của các em, cùng  các anh  bộ đội vang rền  trong  xóm nhỏ  nhà  sàn.  Trong  cái không  khí hân  hoan tràn  ngập  ấy. Tôi bỗng  suy nghĩ  mông  lung: không  biết rồi đây, khi chúng tôi đi bà con sẽ làm gì đây, sẽ chống trả ra sao khi bọn  giặc Pháp  và bọn Việt gian, Hội tề trở lại hạch  sách, hỏi tội đồng bào còn ở lại trong  vùng cai trị của chúng?  Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định  Genève  và bảo vệ những thành quả kháng chiến, cùng những mồ mả liệt sĩ mà bộ đội ra đi tập kết đã gửi lại rồi đây sẽ bắt đầu không kém phần ác liệt, gian nan,  đau  khổ của chín  năm  kháng  chiến  vừa qua.

Hôm  nay, chúng tôi (các đơn vị bộ đội tập kết ở Cao Lãnh),  cùng  bà con Cao Lãnh đến phát hoang cỏ dại, sửa sang phần mộ cụ Phó bảng Nguyễn  Sanh Huy - Thân  sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Phần  mộ của cụ Phó bảng  đã được bà con ở đây bảo vệ và chăm sóc từ khi Cụ mất  (ngày  27 tháng 10 năm  Kỷ Tỵ - 27 tháng 11 năm  1929). Làng Hòa  An, chùa  Hòa Long là nơi cụ Phó bảng  làm nghề  bốc thuốc Nam  trị bệnh cho dân  làng. Đây là việc làm từ thiện của Cụ để che mắt  địch  về hoạt  động  bí mật  của mình: đi lại, tiếp  xúc các nhân sĩ, nhà  nho  yêu nước,  những nhà  cách  mạng đương  thời như  Phan  Chu Trinh,  Lương Văn Can, Nguyễn  An Khương, Nguyễn  An Ninh, Lê Mạnh Trinh, Hà Huy Giáp, Phạm Hữu Lầu, Lưu Kim Phong, Lê Văn Đáng,...

(...)

Bộ đội Tiểu đoàn 311 được  giao nhiệm vụ xây dựng  lại ngôi mộ  cụ Phó  bảng  Nguyễn Sanh Huy cùng Đài Chiến sĩ - Tổ quốc  ghi công trong  thời gian đóng quân ở Hòa An và gửi lại đồng  bào tiếp tục chăm sóc, bảo vệ.

Thăm lại Hòa An - Cao Lãnh

Để viết lại những trang  Hồi ký đầy ắp kỷ niệm  này trong  những ngày tập kết ở Cao Lãnh (tháng 9 năm  1954), một  sáng  Chủ Nhật  (18 tháng 11 năm  2012) tôi đèo  bồng  trở lại Cao Lãnh. Thắm  thoát mà đã hơn 58 năm  trời xa cách.

Hòa An - Cao Lãnh nay đã đổi thay quá nhiều. Cao Lãnh đã trở thành thủ phủ  của tỉnh Đồng  Tháp.  Nhà  cửa hiện  đại mọc  lên san  sát, phố  thị đông  vui. Cầu Đúc mới được  bắc qua thay cho cầu cũ bắc qua sông Cao Lãnh. Con lộ từ chợ Cao Lãnh không còn đất đá lởm chởm  như ngày xưa mà đã rộng mở chạy thẳng tắp ra bến phà Cao Lãnh để qua bờ bên kia sông Tiền. Cũng ở bến sông này, ngày xưa xuống tàu đi tập kết ra miền  Bắc không  còn dấu vết của bến  tàu  Cao Lãnh ngày nào,  tôi đành chụp lại một  đoạn sông  Tiền chạy qua  Cao Lãnh làm kỷ niệm  ngày xưa. Xóm nhà  sàn của làng Hòa An ngày nào không  còn, thay vào đó là những nhà  biệt lập, nhà  trọ, nhà  hàng,  xưởng cơ khí, xưởng cưa... xen lẫn trong  vườn cây trái xum xuê. Vẫn còn những cây dừa mọc  cao vút trên  con rạch  dẫn  nước  sông Tiền vào sông Cao Lãnh như ngày nào. Con rạch nhỏ  đó khi nước lên, các chị, các em cười đùa vui vẻ giành  nhau giặt quần áo của chúng tôi sau cái hôm  chúng tôi đi sửa sang mộ cụ Phó bảng.  Không còn con lộ đất nhỏ  vừa mới được bà con phát hoang làm nơi sắp hàng,  chỉnh đốn  đội ngũ của bộ đội trước khi xuống tàu. Nhưng  đội ngũ chỉnh tề của chúng tôi không giữ được lâu khi bà con ùa đến nắm  tay, vỗ vai, khoát  lên ba lô chúng tôi những đòn  bánh tét, bánh ú, gói xôi, chai sô đa, nước  ngọt  để bộ đội no lòng, no dạ trong  cuộc  hành trình dài từ bến  Cao Lãnh ra biển  Đông...

Về Hòa An - Cao Lãnh, cái mà tôi quan tâm  nhiều nhất là ba địa điểm  thân thuộc: ngôi mộ cụ Phó bảng,  ngôi chùa  Hòa Long và trường  Tiểu học Cao Lãnh. Ngôi mộ cụ Phó bảng đã được Tỉnh uỷ Đồng  Tháp  và bà con Đồng  Tháp  xây lại khang  trang,  rộng  rãi, sạch  đẹp nằm trong khuôn viên “Khu di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc”. Ngôi chùa Hòa Long đã được  các Phật  tử góp công,  góp của  xây dựng  to đẹp.  Khi chúng tôi đang  thắp nhang viếng mộ cụ Phó bảng, tiếng chuông chùa ngân  vang cùng tiếng gõ mõ đều đều, cùng tiếng tụng kênh nhẹ nhẹ của các nhà sư vọng sang, thật là thiêng liêng. Cụ Phó bảng nằm  đây dù xa quê  hương  Nghệ An, nhưng chiều  nào  cũng  được  tiếng  tụng  kinh,  tiếng  chuông chùa, tiếng gõ mõ làm ấm lòng người. Ngôi trường  Tiểu học Cao Lãnh không  còn ở nơi cũ mà đã di chuyển đến  một  địa điểm  mới. Các em học sinh  ngày xưa nay đã trở thành cụ ông, cụ bà mà trước  đó các em chắc  chắn đã tiếp  bước  chúng tôi trong  cuộc  kháng  chiến  trường kỳ 21 năm  chống Mỹ cứu nước hoặc  đã trở thành các thầy giáo, cô giáo dạy dỗ thế hệ sau trở thành những công dân  có ích cho Tổ quốc.

Lê Chí Đức

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: