trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Tình yêu và kỷ niệm

Sinh ra trên mảnh đất Tiền Giang, tôi biết đến hai từ cách mạng năm  11 tuổi, với niềm đam  mê  âm  nhạc, tôi tham gia hoạt  động  trong  đoàn trẻ Núi Lam và đoàn tuyên truyền lưu động  của quê  hương  Cai Lậy, Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) với nhiệm vụ ca hát trước và sau các đợt diễn thuyết kêu gọi đồng bào tham gia các tổ chức kháng  chiến chống Pháp.

Từ năm  1948 - 1951, ở chiến  khu miền  Đông, Khu 8, Khu 9, các tiểu đoàn của ta đã được thành lập và có nhiều trận  đánh lớn như trận  Mộc Hóa, Long An, chống càn quét  của địch ở Đồng Tháp Mười. Cũng trong năm  này (tháng 5 năm  1951), tôi chính thức tòng quân vào Tiểu đoàn 309, chủ lực thuộc Tỉnh đội Mỹ Tho, trở thành chiến  sĩ trinh sát đặc công, trực tiếp cầm súng  tham gia nhiều trận  chiến  đấu.

Năm 1954, hòa bình  được lập lại. Đơn vị chúng tôi di chuyển về thị trấn  Cao Lãnh đóng quân để chờ ngày xuống tàu đi tập kết. Cao Lãnh trong những ngày đó thật nhộn nhịp, người dân  các nơi đổ về để tiễn  người thân đi kháng  chiến  sắp đi xa. Khắp các làng xã thuộc thị trấn  Cao Lãnh đâu  đâu  cũng  có quân cách  mạng đóng.  Hầu hết anh  em trong  đơn  vị đều muốn đi “cho biết miền  Bắc” và ra Bắc sẽ được gặp Bác Hồ. Với tinh thần “đi vinh quang, ở lại anh dũng”, các chiến  sĩ chia tay gia đình,  đồng  đội, đồng  chí, chia tay những xóm làng, những dòng sông, dòng kênh để lên đường tập kết ra Bắc. Với lòng tin sắt đá “hôm nay chia tay để ngày mai  gặp lại trong cảnh huy hoàng  của Tổ quốc” đã tiếp thêm sức mạnh để các chiến  sĩ lên đường  ra Bắc học tập  và trở về chiến  đấu  giải phóng quê  hương. Lúc này tôi đã có người yêu và chúng tôi đã hứa hôn  với nhau, nhưng vì nhiệm vụ, vì tương  lai chúng tôi phải  gác lại tình  riêng.

Những  ngày  trên  miền  Bắc là những ngày  mong  mỏi,  khắc  khoải  thương nhớ  người thân yêu: “Ôi nỗi nhớ! Có bao giờ phôi phai.  Giờ em ở đâu? Hỡi mùa hoa Bần!”(lời ca khúc mà tôi đã sáng tác sau này). Rồi như  nỗi nhớ  dần  lắng xuống,  chúng tôi tập trung vào rèn luyện,  góp sức xây dựng  quân đội chính quy, kiến  thiết  miền  Bắc xã hội chủ  nghĩa.  Bên cạnh nhiệm vụ của người chiến sĩ ngày đêm lăn lộn trên thao trường, ra sức luyện tập, niềm say mê âm nhạc vẫn không  ngừng  thôi thúc  và tôi đã viết ca khúc “Hòa bình  trở lại”, “Nhớ Đồng Tháp  Mười” đoạt  giải nhất cuộc  thi sáng tác của Sư đoàn 330, và sau đó là học viên khóa đầu  tiên của Trường Nghệ thuật Quân  đội (1956).

Học tập, lao động  và rèn luyện  trên  miền  Bắc, tôi vẫn không  nguôi  nhớ  quê hương, gia đình  và người con gái đã hứa  hôn  - Lợi. Tôi đã tìm mọi cách  liên lạc, may mắn  thay  một số đồng  chí chung đơn  vị có người thân bên  Pháp,  vậy là tôi viết thư nhờ  anh  em gửi qua Pháp  rồi lại nhờ người quen gửi từ Pháp  vào Nam cho Lợi và gia đình.  Sở dĩ phải  làm như vậy nhằm đảm  bảo an toàn  và đánh lạc hướng  bọn  ngụy quân, ngụy quyền.

Năm 1962 tôi nhận được quyết  định  của cấp trên  hành quân vượt Trường Sơn về Nam. Khát vọng cháy bỏng  đã trở thành hiện  thực.  Trước khi lên đường,  chúng tôi đã được gặp Bác, điều mong  muốn của bao người lính Nam Bộ trước khi đi tập kết, nhưng mãi đến năm 1962 chúng tôi mới gặp được Bác trong  tư thế bộ đội về Nam.  Gặp được Bác là thỏa  mãn. Đoàn  chúng tôi đi gồm 20 người, với danh nghĩa  văn nghệ  sỹ quân đội về miền  Nam  đầu tiên để thành lập Đoàn  Văn công Quân  Giải phóng miền  Nam. Cuộc hành trình đói, rách, kham  khổ, sốt rét, sau  mấy tháng trời đi bộ, chúng tôi đã về tới Trung  ương  Cục, Bộ Chỉ huy Miền an toàn  và bắt tay vào thực hiện  nhiệm vụ.

Năm  1963, từ trên  R, tôi có dịp về vùng sâu quê  hương  Cai Lậy, vùng căn cứ lõm trong hậu địch tuyển chọn người, huấn luyện, đào tạo để kịp thời bổ sung cho lực lượng ca múa, nhạc, sân khấu. Về quê ngay trong thời điểm vùng Long Trung - Ba Dừa được giải phóng. Với nhạy  cảm của người nghệ  sĩ, tôi gởi gắm nỗi niềm  của đứa con xa quê trở về trong  ca khúc phấn khởi, tự hào: “Mừng Long Trung - Ba Dừa giải phóng!”. Dịp này, tôi đã về tìm gặp gia đình và tìm Lợi. Niềm vui như vỡ oà, khôn xiết, Lợi vẫn bình an. Trong khói lửa chiến tranh, chúng tôi vẫn hướng  về nhau và chờ đợi trong  sự thuỷ  chung, son sắt. Khoảng  cách  địa lý và thời gian càng làm cho chúng tôi thương nhau nhiều hơn,  càng tô thắm thêm tình  yêu thương chúng tôi dành cho nhau. Trước đó, gia đình  đã làm cơm, tổ chức “đám  cưới giả” (gọi là đám  cưới giả để che mắt mật thám địch), mời bà con tới ăn mừng  gả cô Sáu cho ông Vũ Thành vắng mặt. Chúng tôi gặp lại nhau, niềm vui, hạnh phúc diễn ra trong những ngày ngắn  ngủi, tôi tạm biệt quê hương, người thân để về đơn vị, về Tây Ninh. Chia tay người vợ trẻ, hai chúng tôi không nói được gì ngoài ánh mắt hướng  về tương lai, về ngày thống nhất.

Tới năm  1964, tôi xin cấp trên  rước vợ vào Cục Hậu cần Miền công tác. Vợ tôi tiếp  tục hoạt  động  sôi nổi. Tuy cách nhau không  xa lắm, nhưng lâu lâu và thậm chí cả năm  chúng tôi mới được gặp nhau một  lần, vì tính  chất  công việc, vì nhiệm vụ và vì chiến  tranh. Dẫu sao tôi cũng may mắn  hơn nhiều đồng chí, đồng đội là được trở về trong những năm  tháng ấy, được  gặp  người  thân và được  đồng  hành cùng  người  đồng  chí “đặc  biệt”  trên  bước đường  gian nan  của cuộc  kháng  chiến. Đồng  đội tôi còn rất nhiều người vẫn đang  “ngày Bắc, đêm  Nam”...

Cuộc kháng  chiến  bước vào giai đoạn ác liệt, Mỹ tìm mọi cách ngăn  chặn sự chi viện từ hậu  phương lớn miền  Bắc vào tiền  tuyến miền  Nam,  nên  lương thực  khó khăn,  thiếu gạo hằng  tháng trời, chúng tôi phải  ăn uống  kham  khổ trong  điều  kiện tập  luyện,  hành quân theo  các chiến  dịch không  kể ngày đêm,  mưa nắng,  bom  pháo ác liệt và cả sự hy sinh. Cán bộ sáng  tác, diễn  viên thường đau  ốm,  có lúc lên đến  80% quân số, đôi khi tưởng  chừng như  kiệt sức. Nhưng  với trách  nhiệm của mình, chúng tôi đã chỉ huy đoàn sâu sát, chăm lo đơn vị vượt qua khó khăn,  đoàn kết thành một  khối, quyết  tâm  phục vụ bộ đội và nhân dân  vùng  tranh chấp, kể cả bệnh viện và thương binh  trong  hầm  địa đạo.  Chúng  tôi đã bám  sát đơn vị qua các chiến  dịch lớn của Quân  Giải phóng Miền như Đồng Xoài, Tết Mậu Thân,  Nguyễn  Huệ...  Có một  kỷ niệm  mà tôi không  bao  giờ quên. Đó là tổ phục vụ xung kích đến  một  hầm  nuôi  thương binh  bị gãy cột sống.  Sau khi nghe  bài hát  của ca sĩ Thúy Nương vừa hát xong, anh  có yêu cầu “Hãy hát cho tôi nghe bài ca Tâm tình  người nữ quân y”. Nghe xong anh  nói trong  hơi thở đứt quãng “Thôi được rồi, tôi mãn nguyện lắm  rồi!”. Chúng  tôi chuyển sang  hầm  khác  phục vụ thì nghe  tin anh  đã hy sinh! Tất cả chúng tôi đều khóc. Ca khúc  Tâm  tình  người nữ quân  y do tôi sáng tác và sau này nằm  trong  Chùm ca khúc  5 bài được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm  2013 (do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký tặng thưởng).

Khi đang  trên  đường  dẫn  đoàn văn công  đi phục vụ bộ đội chiến  trường  sắp bước vào trận  đánh lớn thì nghe  tin vợ tôi bị sốt huyết  sắc tố ra đường  tiểu,  đang  cấp cứu tại bệnh viện K.71/B và khó  qua  khỏi.  Biết rằng  vợ có thể  sắp  chết,  nhưng tôi không  thể  nào  bỏ nhiệm vụ, chỉ còn biết gửi về cho người vợ hiền  yêu dấu  lá thư động  viên, và gửi thư cho bác  sĩ Đại, trưởng  bệnh viện K.71/B nhờ  tận  tình  cứu  chữa.  Trước sự tận  tình  của  bệnh viện với quan điểm  còn nước,  còn tát, vợ tôi đã qua được cơn hiểm  nghèo. Trên đường  đi phục vụ chiến  dịch, tôi đã sáng tác ca khúc “Trước giờ ra trận”  nhằm động  viên bộ đội và cho cả bản  thân tôi. Sau chiến  dịch,  tôi trở về ghé thăm vợ vẫn còn đang  rất yếu, ra suối phải  chống gậy, tôi hết sức thương cảm.

Ngày 30 tháng 4 lịch sử đã đến. Nhưng những ngày ở Sài Gòn chúng tôi vẫn biệt tin nhau. Bỗng một  ngày, tôi được lệnh  gọi vào Bộ Chỉ huy đang  đóng  tại Bộ Tổng Tham  mưu  ngụy cũ (nơi Bộ Tư lệnh Quân  khu 7 bây giờ) khi xe tôi vừa đến cổng thì cũng bất ngờ gặp lại vợ trong bộ quân phục Quân Giải phóng cũng vừa dừng xe tại đó. Nhưng  chúng tôi vẫn không kịp nói gì, chỉ mừng  nhau trong  giây lát rồi tiếp tục nhiệm vụ của mình.

Mùa  xuân  năm  1975, đánh dấu  mốc  son  chói  lọi trong  lịch sử dân  tộc, non  sông  liền một  dải, Bắc Nam  thống nhất. Gia đình  tôi cũng  như  bao gia đình  được sum  họp.  Gần 60 năm  trôi qua kể từ ngày tập kết ra Bắc - cuộc chia ly vì nghĩa  lớn thiêng liêng, cao cả nhưng cũng  hết sức cảm  động.  Cảnh  con tiễn  cha, mẹ tiễn  con, vợ tiễn  chồng trong  những ngày ấy đã hằn  sâu  trong  tiềm  thức  của cả một  thế  hệ. Giờ đã ở cái tuổi  “cổ lai hy”, nhưng có biết bao kỷ niệm  vẫn còn hằn nguyên trong  ký ức, sống mãi trong  tim và mới mẻ như ngày nào. Năm tháng qua đi, thời gian có thể xóa mờ tất cả, nhưng những gì đã thuộc về lịch sử, thuộc về quá khứ hào hùng  của dân  tộc thì mãi mãi trường  tồn.  Cuộc đời hoạt  động  cách mạng của tôi trưởng  thành từ “anh  bộ đội Cụ Hồ”, từ tình  yêu và kỷ niệm.  Với tôi, quãng thời gian là người lính Cụ Hồ, là chàng trai trẻ gác lại tình  riêng lên đường  tập kết và đem hết tinh  thần, nhiệt huyết  cho hoạt  động  nghệ  thuật, phục vụ cuộc kháng  chiến  oanh liệt, hào hùng  của dân  tộc, mãi mãi là những dấu  ấn không  thể nào quên.

Nghệ sĩ ưu tú, Nhạc sĩ, Đại tá Vũ Thành

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: