trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
100 ngày tập kết tại Cao Lãnh

Tôi được phân công về công tác Tổ Cơ yếu Tỉnh đội Long Châu Sa vào đầu năm  1951. Trước đó, tôi công tác tại Tổ Cơ yếu Khu uỷ Khu 8. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, các Khu đều giải thể để thành lập các Phân  liên khu. Riêng Nam Bộ thành lập lại 02 Phân  liên khu là Phân  Liên khu miền  Đông  và Phân  Liên khu miền  Tây (tỉnh  Long Châu Sa thuộc về Phân  Liên khu miền  Đông).

Trước đình chiến năm  1954

Đầu năm  1954, tình  hình cách  mạng cả nước đang  phát triển  có nhiều thuận lợi, chiến thắng dồn  dập  khắp  nơi, địch co lại không  còn hung  hăng,  càn quét  như  trước.

Tháng  3 năm  1954, kết hợp với chỉ đạo của Trung  ương, các địa phương đều đẩy mạnh hoạt  động  tấn  công địch  để phối  hợp  với chiến  trường  miền  Bắc, đặc biệt là mặt  trận  tấn công vào tập đoàn cứ điểm  Điện Biên Phủ.

Ngoài các hoạt  động  thường xuyên,  Tỉnh đội Long Châu  Sa tổ chức mở chiến  trận  Phú Châu  (gồm huyện Tân Châu  và An Phú) nhằm phá  thế kìm kẹp của địch, giải phóng nông thôn, mở rộng địa bàn  hoạt  động,  xây dựng  căn cứ lõm cho huyện...

Tổ Cơ yếu Tỉnh đội Long Châu  Sa (Nguyễn  Thành Tài làm Tổ trưởng, không  có tổ phó) chọn và phân công một  số đồng  chí phục vụ, tôi được bố trí phụ  trách  chung và theo  sát Ban chỉ huy Mặt trận (do đồng chí Lê Xuân Lựu - Tỉnh đội trưởng  làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Văn Thử - Uỷ viên Thường  vụ Tỉnh uỷ làm Chính  uỷ), các đồng  chí cơ yếu còn lại đi theo  các mũi binh  chủng, các tiểu đoàn.

Phú Châu  là huyện cù lao, nằm  giữa sông Tiền và sông Hậu. Từ căn cứ của tỉnh,  muốn điều  lực lượng vũ trang  khá đông  sang  cù lao phải  vượt con sông Tiền rộng  cả ngàn  mét, tàu địch thường xuyên hoạt  động  rất phức  tạp. Nhưng  với quyết  tâm và khéo léo của quân ta, toàn  bộ lực lượng  chiến  đấu  đều  vượt qua  sông  an  toàn  và đồng  loạt  nổ  súng  đúng giờ G. Sau đó, quân ta trụ lại thực  hiện  vũ trang  tuyên truyền chủ  trương, đường  lối cách mạng, vận động  binh  sĩ đào rả ngũ, trừ gian diệt ác, chống càn...  và đêm  thứ ba, tuy địch tăng cường đối phó,  nhưng do ta đánh bất ngờ, địch hoàn toàn  bị động  nên  phần lớn là lo cố thủ  ở những nơi trọng  yếu, nên  tuy có phản ứng nhưng rất yếu ớt, ta vượt sông trở lại căn cứ an toàn.

Kết thúc  chiến  trận  Phú  Châu,  ta giành  nhiều thắng lợi, làm  cho  hàng  ngũ  địch  càng hoang mang dao động,  được sự tác động  của gia đình  binh  sĩ làm cho bọn  tề, ngụy co lại, đào rả ngũ hàng  loạt. Trái lại, với cán bộ chiến  sĩ và nhân dân  ta, nhứt là huyện An Phú và Tân Châu  vô cùng  phấn khởi, tiếp  tục phát huy khí thế  tấn  công  địch,  xây dựng  xóm, ấp vừa mới được giải phóng, củng cố chính quyền cách mạng, đoàn thể, phát triển  lực lượng chiến  đấu  tại chỗ.

Đầu tháng 5 năm  1954, được  tin quân ta đã chiến  thắng, tiêu  diệt  và bắt  sống  toàn  bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thu toàn  bộ vũ khí và quân trang  quân dụng. Như làn gió mới thổi vào trong  lúc quân dân  Long Châu Sa đang háo hức đón mừng  chiến thắng của chiến  trận Phú Châu, càng làm cho khí thế cách mạng tấn công bùng lên dữ dội, quân dân  khắp  nơi trong  tỉnh  tiếp  tục đẩy mạnh các mũi  tấn  công  địch,  phong trào  tòng quân của thanh niên  nhứt là những vùng mới được giải phóng rất sôi nổi, các đơn vị chiến đấu  của ta được bổ sung  đầy đủ và sẵn sàng đánh địch bất cứ nơi đâu.

Tiếp theo  chỉ đạo của Quân  uỷ Trung ương là sau thắng lợi vang dội của ta ở Điện Biên Phủ  và sự phối  hợp  tấn  công  địch  đều  khắp  chiến  trường  Bắc - Trung  - Nam,  đã làm cho địch lúng túng  bị động,  tinh  thần sa sút cực độ, chẳng những bọn đầu sỏ ở chính quốc  mà cả bọn  viễn chinh và ngụy quân, ngụy quyền ở Việt Nam...  Ta cần phải  tiếp tục đẩy mạnh tấn công hơn nữa ba mặt chính trị, binh  vận và tiêu diệt địch, làm cho hàng  ngũ địch càng rối loạn, mở rộng vùng giải phóng, giành  thắng lợi ở chiến  trường  để tạo thuận lợi trên bàn Hội nghị Genève.

Với tình  hình trên,  thừa  thắng Tỉnh đội Long Châu  Sa tiếp  tục mở chiến  trận  biên  giới giữa Long Châu  Sa và Kandal,  từ biên  giới cặp theo  tả ngạn  sông Tiền, ta đánh thẳng lên, nhiều đồn  bót địch bị ta san bằng,  một  số đồn  bót đầu  hàng  bỏ chạy... Ta thu  được nhiều võ khí, đạn  dược  và quân trang,  quân dụng,  bắt  sống  được  nhiều tên  (số tù binh  ta giáo dục và thả tại chỗ, võ khí và quân trang,  quân dụng  ta thu  được, hầu  hết ta để lại cho lực lượng vũ trang  của bạn  Cao Miên...).

Ta tiếp tục đứng chân lại vùng mới giải phóng rộng lớn giữa tỉnh Long Châu Sa - Kandal giúp địa phương diệt tề, trừ gian và xây dựng  chính quyền xã, ấp...

Sau khi kết thúc  chiến  trận  biên giới, toàn  bộ lực lượng ta rút về trú quân dọc theo  sông Sở Thượng  (Hồng  Ngự) từ Cội Tiểu, Cội Đại dài lên Bàu Gốc, Mỹ Cân đến  Cồn Cò để nghỉ quân và tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm các chiến  trận  vừa qua.  Tôi và các đồng  chí Cơ yếu được cử đi phục vụ chiến  trận cũng trở về đơn vị (đóng tại Cội Tiểu) để báo cáo lại tình hình và kết quả công tác, sau đó đơn vị tổ chức một đêm  đi mò bắt cá Nóc (loại cá Nóc to, dài thường cắn người ban  ngày trên  sông Sở Thượng,  thịt và gan cá rất ngon)  để làm một món ăn đặc biệt, ăn mừng thành công bù lại thời gian đi dã chiến  ăn thường xuyên là muối tiêu...  Đặc biệt, suốt  thời gian sang đất Cao Miên vì thức ăn của nhân dân  bạn  tuy ủng hộ rất nhiều nhưng do không  hợp mùi vị, nên  anh  em không  dùng  được, thỉnh thoảng khi có điều kiện nổi lửa được thì chỉ làm được một món  độc nhứt là “thịt gà nấu chua  với trái cằn thăn” (gà phần lớn là dân  Cao Miên ủng hộ).

Để tiếp  tục phát huy những thắng lợi theo  kế hoạch đánh bồi, đánh nhồi  gây rối loạn cho hàng  ngũ địch,  thúc  đẩy ngụy quân, ngụy quyền tan  rã nhanh hơn,  theo  chỉ đạo  của Ban Chỉ huy Tỉnh đội, toàn bộ các lực lượng trực thuộc chuẩn bị chuyển quân từ Hồng Ngự lần lượt về Cao Lãnh và trú quân dài theo  kênh  Xáng Phong Mỹ từ Thống  Linh dài xuống Đường Thét, Ba Sao, Mỹ Quí...

Sau khi Tổ trinh sát kiểm tra lại tình  hình theo  kế hoạch chiến  trận  tiếp  theo,  toàn  bộ lực lượng chuẩn bị tổ chức  hành quân. Mục tiêu đến  là vượt sông Cửu Long về mở chiến trận  liên huyện Châu  Thành - Lai Vung (Sa Đéc).

Những ngày đình chiến 1954

Nhưng  cũng  trong  thời  gian  này, tin chiến  thắng dồn  dập  khắp  nơi và đặc  biệt  là Hội nghị Genève  kết thúc,  Pháp  đã chịu thua ta trên  bàn  hội nghị (ngày 21 tháng 7 năm  1954).

Một không  khí tràn  ngập  vui mừng  không  sao kể xiết! Chẳng  những các chiến  sĩ ta mà cả quần chúng nhân dân vùng đóng quân cùng nhau reo hò, nhảy múa suốt cả ngày đêm... Cảm  giác ban  đầu  của  đa số cán  bộ chiến  sĩ và chúng tôi đều  rất  vui mừng,  phấn khởi. Nhưng  cũng  có chút  suy nghĩ, hối tiếc là không  biết ngừng  bắn  rồi ra sao nữa,  chừng  nào độc lập? Thay vì hiện  nay trước khí thế quân ta đang “thắng như chẻ tre”, tình  hình chung đang rất thuận lợi, trên chiến trường  cả nước ta đang ở thế chủ động tấn công, phải ta đánh róc để giành  chiến  thắng hoàn toàn  có thể sẽ nhanh hơn.

Tiếp theo những ngày vui mừng thắng lợi, Tổ Cơ yếu chúng tôi liên tiếp nhận được nhiều chỉ đạo của Bộ Chính  trị, của Quân  uỷ Trung  ương, phải  làm việc suốt  cả ngày đêm  về nội dung Hiệp định Genève, hướng dẫn thời gian thi hành của từng giai đoạn về ngừng bắn, phân chia ranh giới tạm  thời Nam  - Bắc, địa điểm  tập  kết của ba khu vực, việc trang  bị cho cán bộ chiến  sĩ... Lúc đầu chưa hướng  dẫn cụ thể thành phần nào đi, thành phần nào ở lại, nên có nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều  đồng  chí đoán mò là chúng ta là Địa phương quân, là Dân quân du kích nên  không  ai tập  kết, chỉ tập kết quân chủ lực chính qui nên đinh ninh với nhau là ở địa phương không ai đi tập kết.

Đầu  tháng 8 năm  1954, các đơn  vị và Tổ Cơ yếu chúng tôi chuyển về đóng  quân ở xã Tân An, từ ngang  kênh  Sáu Quốc theo  lộ ra thị trấn  Cao Lãnh và trụ lại đây để học tập nội dung  Hiệp định  Genève,  chuẩn bị mọi việc cho tập kết, chuyển quân.

Với Tổ Cơ yếu Tỉnh đội Long Châu Sa, được Cơ yếu Trung ương chỉ định  là đầu mối tập hợp  Cơ yếu toàn  tỉnh  gồm Cơ yếu các huyện đội, thị đội, các tiểu  đoàn, các binh  chủng, Cơ yếu Công an, Binh vận, Tỉnh uỷ và lớp đào  tạo của cơ yếu Tỉnh đội đang  học dở dang gần cả trăm  đồng  chí để tổ chức biên chế lại thành tiểu đội, trung đội và chịu trách  nhiệm các mặt  về tổ chức  học tập,  trang  bị vật chất,  tinh  thần để tất cả anh  em cơ yếu yên tâm tập kết ra miền  Bắc.

Lúc bấy giờ, tôi được chỉ định  đi theo  phục vụ Tổ Liên hợp Long Châu  Sa (do đồng  chí Nguyễn  Như Văn - Tỉnh đội phó làm Tổ trưởng  và một số cán bộ Tỉnh đội làm thành viên) để làm việc trực tiếp với đại diện  Pháp  tại Cao Lãnh (khu tập kết Đồng Tháp  Mười).

Đầu tiên,  bộ phận Tổ Liên hợp Long Châu  Sa được bố trí đóng  quân gần chợ Cao Lãnh (cách  cầu đúc 300m) sau đó dời vào nội ô.

Trong các nội dung  đấu tranh với Pháp  có nội dung  “Tổ liên hợp của ta sẽ về đóng quân tại thị trấn  Chợ Mới” nhằm tạo điều  kiện tiếp  xúc, vận động  cách  mạng vùng này, vì hầu hết nhân dân  ở đây chưa  biết nhiều về cách  mạng, nhứt là khối tín đồ Phật  giáo Hòa Hảo nhưng vì thời gian tập kết ngắn và địch cố tình trì hoãn, kéo dài nên ta không thực hiện được.

Sau kết thúc  nhiệm vụ của  Tổ Liên hợp  Long Châu  Sa, tôi trở về cùng  đơn  vị để cùng anh  em chuẩn bị tiếp mọi việc còn lại của kế hoạch tập kết chuyển quân.

Thời gian ở Cao Lãnh, mẹ tôi có đến  thăm, cùng  đi với đứa em trai út trên  12 tuổi.  Gia đình  tôi ở xã Hội An, huyện Lai Vung (Sa Đéc) nay là xã Hội An, huyện Chợ Mới (An Giang).

Hội An lúc bấy giờ là xã vùng  yếu, địch  kềm  kẹp chặt,  bọn  chúng ghép  gia đình  tôi là thân Việt Minh  (anh  chị tôi theo  cách  mạng từ trước  Cách mạng tháng 8 năm  1945). Anh tôi hy sinh năm  1947 trong một trận chống càn, tôi thoát ly từ năm  1949, ở gia đình  chỉ còn đứa em trai út đang  đi học ở cùng  với ba mẹ và ông nội tuổi  gần 90, nên  việc đi thăm tôi là rất khó khăn,  chỉ một  mình mẹ tôi và đứa em phải  tìm nhiều cách  để tạo thế hợp pháp với chúng, nhằm tránh tai mắt  địch luôn  rình  rập, theo  dõi.

Gặp tôi mẹ và em tôi rất mừng,  nhưng cũng  có lo. Mừng là thấy  cách  mạng đã thắng, Pháp  phải  chịu thua, tôi ra đi hơn 5 năm  rồi nay mới có dịp gặp lại, mà lại gặp ở nơi đông đúc, xe cộ dập dìu, nhà  nhà  rợp bóng  cờ sao. Mẹ tôi rất vui và yên tâm  để tôi cùng anh  em đi tập kết, tin cách mạng sẽ thành công nhưng cũng có âu lo là nước nhà chưa được độc lập hoàn toàn,  còn phải  chia ly Nam - Bắc, không  biết hai năm  tình  hình đất nước rồi sẽ thay đổi như  thế nào,  vì thời gian khá dài mà ba mẹ hiện  nay tuổi đã cao, tập kết ra Bắc không biết đất địa, thời tiết như  thế nào,  cuộc sống ra sao, có liên lạc được với gia đình  không...

Tôi có tranh thủ cùng  mẹ và em tôi đi dạo chợ Cao Lãnh, đến  lầu Mười Chuyển, đi xem công trình xây dựng  Đài Chiến  sĩ và cũng  lội bộ đi xem công trình sửa sang  lại khu mộ cụ Nguyễn  Sanh  Huy, có gặp đồng  chí Bảy Hoanh (ông Lê Văn Hoanh, nguyên Chủ tịch  Uỷ ban Kháng chiến  Hành chính tỉnh  Long Châu Tiền) được phân công phụ  trách  tôn tạo, xây dựng  gấp rút lại công  trình này trong  thời gian tập  kết. Ở chơi được  vài ngày, trước  khi ra về, mẹ tôi cho biết là ở địa phương đã chọn em tôi (Nguyễn  Hữu Khánh  13 tuổi) cho đi học miền  Bắc cùng thời gian tập kết này với một số con em gia đình  chí cốt khác tại địa phương. Nhưng ba má tôi còn đang suy nghĩ chưa trả lời vì thấy em còn nhỏ quá, lại còn đang đi học, hơn nữa gia đình  hiện  không  có ai! Tôi suy nghĩ thấy đúng  là nên  giữ lại, vì ba mẹ hiện  chỉ còn hai anh em trai, tôi phải đi tập kết ra Bắc thì đứa em nên ở lại miền Nam, trước mắt phụ giúp gia đình,  hủ hỉ với ông nội và ba mẹ trong lúc tuổi càng cao, sức càng yếu, nên tiếp tục học hành đến nơi đến chốn, sau này lớn lên phục vụ đất nước vẫn chưa muộn.

Sau tập kết tại Cao Lãnh

Thời gian tập kết tại Cao Lãnh đã cận kề, tôi cùng đơn vị đã chuẩn bị các việc tương đối đầy đủ, tất cả anh  em trong  đơn vị đã liên hệ được với gia đình,  giải quyết  tốt về tình  cảm, vật chất,  tinh  thần và sẵn sàng lên đường  tập kết ra miền  Bắc.

Nhưng  rất bất  ngờ, tôi được  đồng  chí Chính  trị viên Tỉnh  đội Long Châu  Sa (đồng  chí Năm  Truyện) gọi đến  báo  cho  biết  nội dung  việc bố trí cán  bộ cơ yếu ở lại tiếp  tục  hoạt động  bí mật  sau này. Đồng chí cho biết, việc chọn cán bộ bí mật  để lại là do bên  hệ Đảng chịu trách  nhiệm, nhưng cuối cùng vì tiêu chuẩn cán bộ Cơ yếu phải là đảng viên, có trình độ chuyên môn  khá nên  bên hệ Đảng không  chọn đủ người, chỉ có đồng  chí Tổ trưởng  Cơ yếu Tỉnh uỷ (đồng  chí Mai Hoàng)  nên  chọn thêm người bên Cơ yếu Tỉnh đội, tôi được chỉ định  là người thứ hai và phải  chọn thêm bốn  đồng  chí nữa  để bố trí cho đủ theo  bộ máy mới khi kết thúc  thời hạn  tập kết tại đây (tỉnh  Long Châu Sa chia lại thành ba tỉnh  là Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc theo  bộ máy hành chánh của ngụy lúc bấy giờ).

Sau khi trao  đổi cùng  đồng  chí tổ trưởng  Cơ yếu chúng tôi chọn thêm đủ bốn  đồng  chí theo  tiêu  chuẩn và tranh thủ  làm  việc riêng  với từng  đồng  chí được  chọn để thông suốt nhiệm vụ được phân công sắp tới và thăm dò thái  độ, tinh  thần, tư tưởng...  Công việc rất thuận lợi là đồng chí nào cũng tỏ ra rất bất ngờ, nhưng sẵn sàng chấp nhận và rất vui vì thấy mình được Đảng tin và giao cho nhiệm vụ ở lại miền  Nam.  Có đồng  chí nói: “Đây cũng  là việc để tôi thực hiện khẩu hiệu (đang phổ biến lúc bấy giờ) Đi là vinh quang, ở là anh dũng”.

Mấy tháng với tinh  thần chuẩn bị đi tập  kết, các đồng  chí đều  lo đầy đủ nón  mới, giày mới, trang  phục mới thì nay lại phải khẩn trương  lo tiếp cho việc ở lại như tài liệu làm việc, quần áo bà ba, nón lá, thuốc men  và các thứ lặt vặt khác cho cuộc sống tự lực và cũng từ đó bắt đầu  liên hệ với khung  tổ chức mới (sau khi từng đồng  chí được sinh hoạt  cụ thể) như:

- Đồng chí Mai Hoàng  và Nguyễn  Văn Điều về phụ  trách  Cơ yêu Tỉnh uỷ Sa Đéc.

- Đồng chí Nguyễn Kim Quang và Lê Văn Khoái về phụ trách Cơ yếu Tỉnh uỷ Long Xuyên.

- Đồng chí Võ Hưng Thông,  Đào Sơn Vương về phụ  trách  Cơ yếu Tỉnh uỷ Châu  Đốc. Mỗi đồng chí được trang bị xuồng có cà rèm, có sạp và câu, lưới... đầy đủ đúng như chiếc xuồng của người dân  ở đây làm nghề  câu, lưới chuyên nghiệp.

Cuối tháng 10 năm  1954, trước vài ngày khi hết thời gian tập kết tại Cao Lãnh, các đoàn của tỉnh được tổ chức bí mật ở lại, lần lượt rút quân. Trước khi tôi về điểm mới, tôi và đồng chí Khoái được  đồng  chí phụ  trách  bảo  vệ căn  cứ Tỉnh  uỷ Long Xuyên (đồng  chí B) đến gặp sanh  hoạt  tình hình quần chúng nơi sắp đến, đường  đi và khu vực trụ lại để từng đồng chí bí mật  đi đến  nơi và tạm  thời ở đó, sau vài ngày sẽ có người đến  liên hệ và hướng  dẫn tiếp theo.

Trời cuối tháng 10, nước ở Đồng Tháp  Mười đã giựt khá, gió bấc đã về, trời đã trở lạnh, hai chúng tôi lặng lẽ lên đường  trong  lúc trời chưa sáng để tránh gặp gỡ những người xung quanh. Đến nơi, trời đã gần tối, tụi tôi trao đổi thôi thì đêm  nay mình trụ ở ngoài đồng,  ăn ngủ tại xuồng,  ngày mai sẽ vào liên hệ, tìm chỗ ở tạm.

Hôm  sau, chúng tôi bơi xuồng  vào ngọn  rạch  Bắc Dầu (xã Bình Thành) quan sát dài từ ngọn  ra, ghé vào một  vài nhà  để làm quen, nắm  tình  hình sanh  hoạt,  đời sống  và tâm  tư của họ trước  tình  hình đất  nước  hiện  nay. Đây là vùng giải phóng cũ, nhà  cửa thưa  thớt, dân  cư nghèo. Suốt  năm  lam lũ cực nhọc nhưng cũng  vừa đủ ăn, các cháu  phần lớn chỉ học lớp 3, 4 rồi nghỉ. Vì ở vùng kháng  chiến  nên  họ cũng  đã từng chịu đựng  bom  pháo và sự càn quét  ác liệt của giặc, rất thương yêu bộ đội, biết bộ đội ta sẽ tập kết ra miền  Bắc, họ không  vui, sợ sau này bọn  quốc  gia sẽ đàn  áp, khủng  bố trả thù.  Có người nói đình  chiến, ngừng bắn, không còn bom đạn, chết chóc, ta thắng lợi nên rất mừng  nhưng bộ đội tập kết hai năm  mới trở về là lâu quá,  không  biết cuộc sống hằng  ngày rồi sẽ ra sao!

Cuối cùng chúng tôi xin ở nhờ một nhà  nhỏ  chỉ có hai mẹ con, đứa con trai trên  20 tuổi đang  đi làm câu lưới. Nhà rất nghèo, tuy mực  nước  xung quanh còn ngập  rất sâu, nhưng nhà  chỉ có một  chiếc  xuồng  nhỏ,  đứa con đi làm câu lưới nên  bà già ở nhà  không  đi đâu được. Tụi tôi đến ở nhờ có người hủ hỉ nên  bà già rất vui. Đêm đầu tiên chúng tôi được trở lại ngủ nhà  dân,  với thái  độ chăm sóc của bà chủ  nhà,  chúng tôi thật  sự thấy ấm lòng, tự an ủi xem như  mình được trở về với gia đình.  Đang ngủ say (khoảng 22 giờ), tôi giật mình vì có tiếng xuồng cặp vào nhà,  tôi tưởng  đứa con đi giăng câu về nên  vẫn nằm  yên, nhưng khi nghe  tiếng  kêu tên,  tôi nhanh chóng ra gặp thì ra là đồng  chí bảo vệ căn cứ. Tôi bước xuống xuồng và xê dịch ra ngoài, đồng chí nói nhỏ: “Có quyết  định  mới, mỗi tỉnh chỉ để lại một đồng chí cơ yếu thôi. Báo cho đồng chí K chuẩn bị đi ngay để kịp ngày mai xuống tàu. Nhớ bí mật  đừng  cho đồng  chí biết, chỉ nói là đi công tác đột xuất”.

Rất bất ngờ trước  quyết  định  mới, tôi không  kịp suy nghĩ gì, chỉ biết thi hành lệnh  vào báo thức đồng  chí K, nhưng đồng  chí đã thức và đang nghe  ngóng. Tôi báo lại như đã sinh hoạt  và khi đồng chí K bước xuống xuồng để đi, tôi muốn nói một đôi lời để chia tay nhưng cũng  không  nói được.

Tôi định  vào ngủ lại nhưng làm sao mà ngủ được, đầu  óc cứ nghĩ lung tung:

Hai năm  ở lại miền  Nam,  chưa  biết tình  hình sẽ diễn  biến  như  thế nào,  chế độ tàn bạo của kẻ thù sẽ ra sao? Vì là công tác “Kỹ thuật, bí mật” không  phải ai cũng làm được mà mỗi tỉnh chỉ để lại có một đứa, nếu chẳng may bị bắt, bị thương hay phải hy sinh thì ai tiếp tục, ai bảo vệ tài liệu cơ mật  của Đảng và làm sao giữ liên lạc với Trung  ương và các nơi?

Nghĩ trước đây, sanh  hoạt  tập thể đông vui, cả mấy chục đứa toàn  là “đực rựa” tuổi trên dưới 25 nên  đơn  vị lúc nào  cũng  rộn  rã tiếng  cười. Từ ngày hôm  qua,  tuy đã thấy  buồn, nhưng được hai đứa cũng  tạm  an ủi với nhau. Nay đến  giờ này, chỉ còn lại một  mình nên cảm thấy rất cô đơn, rất buồn và tự nhiên nước mắt  lại ứa ra...

Rồi lại nghĩ đến gia đình,  nhớ là mình đã nói với mẹ và em là đi tập kết. Có lẽ giờ này mẹ và những người thân ai cũng đinh  ninh là mình đã xuống tàu tập kết ra Bắc. Đâu có ngờ là mình ở lại, mà chỉ có một  mình... Nghĩ đến  đây, mình cũng  có một  chút  tiếc là phải  biết mình ở lại thì hôm  bà già tham khảo  mình bàn  cho  đứa  em đi học  miền  Bắc sẽ tốt hơn, có nhiều điều  kiện thuận lợi cho học tập  và công tác sau này. Hai anh  em thì một  ở Nam tiếp tục chiến  đấu trực tiếp với quân thù và một còn trẻ nên  ra miền  Bắc học tập để chuẩn bị cho ngày giải phóng, xây dựng  quê hương. Nhưng  cuối cùng  rồi cũng tự an ủi và khẳng định,  thôi  thì cứ an tâm  bám  vào nhiệm vụ thực  tế mà phấn đấu,  có Đảng  ở bên  ta thì ta cứ tin vào Đảng. Hiện chỉ còn lại một mình thì mình phải chấp  nhận, phải tự lãnh đạo bản thân để vượt qua  mọi thử thách mà đây chỉ là bước đầu  trong  hai năm  đấu  tranh mặt  đối mặt  với quân thù  mà Đảng đã phân công.

Sau đó không  lâu, tôi biết  tin là chỉ có cơ yếu Tỉnh  uỷ Sa Đéc và Long Xuyên đêm  đó rước kịp vì còn ở gần Cao Lãnh. Riêng cơ yếu Tỉnh uỷ Châu  Đốc vì đã đi sâu vào giồng Sa Rài (xã Tân Hộ Cơ) nên  không  đi rước kịp nhưng sau đó một  đồng  chí bị bệnh rồi mất,  từ giữa năm  1957 Cơ yếu Tỉnh uỷ Châu  Đốc cũng  chỉ còn lại đồng  chí Võ Hưng Thông.

Tôi ở tạm  tại đây ba, bốn  ngày. Sau đó, có người hướng  dẫn  đến  điểm  mới. Đây là khu vực “đìa đục” vùng sâu của xã Bình Thành, là một góc của Đồng Tháp Mười rộng lớn mênh mông, xung quanh toàn  là lúa trời (có người gọi là lúa ma) là vùng kháng  chiến  cũ, nhà  ở thưa thớt, cách nhau vài trăm mét mới có một cái. Chúng tôi được bố trí mỗi nhà một người và xưng hô là con cháu  trong  gia đình  cho hợp  pháp. Nhờ nhà  thưa,  ở đồng  sâu, ít người qua lại nên  việc bảo vệ ăn ở làm việc rất thuận lợi, liên hệ nhau cũng  dễ dàng.

Đến đây chúng tôi mới gặp mặt nhau, mới biết là những người được phân công ở lại và cũng từ đó bộ máy của Văn phòng Tỉnh uỷ Long Xuyên được hình thành và bắt đầu đi vào hoạt  động  ngay.

Đầu tiên những người có quan hệ làm việc với tôi như:

- Hai đồng  chí điện  đài là Bảy Hữu và Tư Đen.

- Đồng chí Chánh văn phòng Tỉnh uỷ: Trần Thái.

- Đồng chí y sĩ: Mười Bằng.

- Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ: Nguyễn  Kim Nha.

Và cũng  ngay đêm  hôm  đó, trời vừa khuất bóng,  điện  đài bắt đầu  dựng  ăng-ten lên nối mạng với đài Trung  ương và một  số nơi. Tôi (Cơ yếu) cũng  bắt  đầu  chuẩn bị mọi việc và chuyển động nhịp nhàng theo  bộ máy đấu tranh chung của cuộc chiến  đấu mới, cuộc đấu tranh chính trị ở miền  Nam.

Ngày 29 tháng 10 năm  1954, chuyến tàu  chở người  tập  kết cuối  cùng  rời bến  bắc  Cao Lãnh để lại sau lưng biết bao nỗi niềm  của người đưa tiễn. (...)

Và từ đó, chẳng phải  là hai năm  như  những người  ra đi và những người  ở lại đều  đưa hai ngón  tay, tin tưởng là sau hai năm  sẽ có tổng tuyển cử, sẽ trùng phùng thống nhất Bắc Nam.  Đâu có ai ngờ rằng cuộc chiến  do kẻ thù  xâm lược tiếp tục gây ra và đã kéo dài trên

20 năm. Sự ác liệt của chiến  tranh, sự độc ác, dã man  của quân thù ngày càng tinh vi, phức tạp  đã gây ra cho  đồng  bào,  đồng  chí ta ở miền  Nam  không  biết  bao  nhiêu đau  thương, chết  chóc  và mức độ tổn thất  do chúng gây ra cũng  tăng lên gấp bội.

“Tức nước  vỡ bờ” sức chịu  đựng  của  cán  bộ và nhân dân  miền  Nam  không  còn  chịu nổi. Mở đầu  là trận  đánh Giồng Thị Đam  - Gò Quản  Cung ngày 26 tháng 9 năm  1959, các cuộc  nổi dậy, tấn  công  tháng 11 năm  1959 và giải phóng xã Thanh Mỹ đêm  24 rạng  ngày 25 tháng 12 năm  1959 ở tỉnh  Kiến Phong, ngày 17 tháng 01 năm  1960 Bến Tre “Đồng khởi” và tiếp theo  cả miền  Nam đồng  lòng đứng  lên, mặt  đối mặt  với quân thù,  cướp võ khí của địch diệt lại địch, đã thật  sự mở ra một  lối thoát cho cách  mạng miền  Nam,  tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc, dần dần làm chủ lại tình  hình đẩy địch vào thế chống đỡ và cuối cùng buộc  “Mỹ phải cút, ngụy phải nhào”, thực hiện  được nguyện vọng cuối cùng dân tộc Việt Nam là giành  độc lập tự do, thống nhất đất nước...  sau 30 năm  dài chiến  đấu vô cùng oanh liệt và không  biết bao nhiêu là gian khổ hy sinh.

Nguyễn Kim Quang (Chín Phát)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: