trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Âm vang một thời ở lại

Lúc nhỏ  tôi cùng  với gia đình  sinh  sống ở làng Hòa An (nay là xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh), một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, nơi có chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh  và nơi cụ Nguyễn  Sanh  Huy, thân sinh của Bác Hồ, sống ở đây những năm cuối đời. Ba tôi là thầy thuốc Trương  Tử Phòng, vốn người ở Phong Mỹ nhưng sau khi lấy mẹ tôi thì về làng Hòa An sinh sống và làm nghề  hốt thuốc Bắc. Cha mẹ tôi sinh được bảy người con, năm  anh em trai, tôi thứ tám nên  mọi người gọi luôn là Tám Năng. Học hết lớp 5 ở trường  tiểu học Cao Lãnh thì tôi nghỉ học, về nhà  học làm thầy thuốc với mong  muốn nối nghiệp cha, chữa  bệnh cứu người.

Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, ở Cao Lãnh, mọi nhà  treo  cờ đỏ sao vàng lên khắp  nơi. Một chàng thành niên  mười  bảy tuổi  như  tôi, đủ hiểu  để nhận ra rằng  độc lập, tự do quý hơn vàng, điều  mà nếu  chưa  có Cách mạng tháng Tám thì nhất định  không  thể có. Tôi nhận ra có sự thay đổi, sự chuyển biến lớn lao thực sự ở quê mình. Thấy con người mình như sáng sủa lên. Tôi nhập vào dòng biểu tình chào mừng cách mạng. Khi trở về nhà, anh Hai tôi hỏi: “Em định  làm cách mạng đấy à?”. Tôi tìm cách thoái thác câu trả lời nhưng anh cũng ngầm hiểu được tôi đang muốn gì. Bởi trong gia đình, người gần gũi và ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩ cũng như việc làm của tôi sau này chính là anh Hai tôi - Trương Văn Biểu. Anh từng tham gia phong trào cách mạng của tỉnh từ những năm  1930 bị giặc Pháp  bắt rồi tra tấn anh  dã man.  Ra tù, anh  chọn nghề  của gia đình  để sinh sống và cũng  để có vỏ bọc mà tiếp tục tuyên truyền cách mạng. Chính anh là người dần dà giác ngộ cách mạng cho tôi.

Ðánh lại thằng Pháp  âm mưu  định  biến  dân  ta thành nô lệ lần nữa là điều  không  phải bàn cãi gì cả. Sau Cách mạng, hưởng  ứng lời kêu gọi toàn  dân kháng  chiến  của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  cùng  với hàng  ngàn  thanh niên  lúc bấy giờ đã hát lên bài Nam Bộ kháng chiến, tôi cũng  “ra đi” theo  tiếng  gọi quê  hương  với tâm  hồn  thanh thản, hào hứng.  Tôi vào Hội thanh niên  Cứu quốc  của xã, lúc đó, các hoạt  động  của thanh niên  diễn  ra sôi nổi, nhiều thanh niên  hăng  hái tham gia các phong trào,  nhất là văn hóa văn nghệ,  tòng  quân, canh gác, vào dân  quân du kích trực tiếp chiến  đấu và phục vụ chiến  đấu...  Năm 1948, tôi được kết nạp  vào Đảng  Cộng sản  Đông  Dương  và được  chỉ định  làm bí thư  xã Hòa  An, bí thư trước  đó là đồng  chí Tư Châu  hy sinh.  Nhiệm vụ của tôi là phải  khôi phục, củng  cố cơ sở đảng,  đẩy mạnh hoạt  động  diệt ác, trừ gian, thành lập lực lượng dân  quân du kích của xã. Lúc này ở các xã giải phóng, mỗi xã đều  có một  tiểu đội hoặc  một  trung đội dân  quân du kích. Hòa An cũng  là một  trong  những xã có lực lượng dân  quân du kích mạnh của tỉnh. Bên cạnh việc tập trung xây dựng kinh tế, ta cũng rất chú ý việc xây dựng và phát triển  văn hóa cách mạng. Thực hiện chủ trương  “diệt giặc dốt”, từ cuối năm  1947 về sau, phong trào “diệt dốt” được cán bộ, chiến  sĩ và nhân dân  hưởng  ứng mạnh mẽ. Các lớp bình  dân  học vụ được mở ra ở khắp  các nơi, thu hút đông  đảo người học, từ trẻ em đến thanh niên  nam nữ, kể cả các cụ già rủ nhau đi học. Mỗi lớp vài ba chục học viên, học tại nhà dân, học trưa, học tối. Người biết chữ dạy người chưa biết. Năm 1949, tôi được cấp trên cử đi học lớp Đại đội chánh tại Cần Thơ, lớp học này nhằm đào tạo cán bộ cho các tỉnh  miền  Tây Nam  Bộ. Sau khóa học, tôi được phân công về tỉnh  Mỹ Tho làm phó  chính trị viên rồi chính trị viên đại đội địa phương quân huyện Cái Bè, hoạt  động  đến  1950 thì được  điều  về công  tác tại Huyện đội huyện Cao Lãnh cho đến  lúc tập kết.

Thực hiện lệnh đình chiến (theo Hiệp định Genève 1954), chúng tôi rút toàn bộ lực lượng về đứng  chân trên  địa bàn  huyện Cao Lãnh ở những khu vực theo  quy định,  bàn  giao địa bàn  cho đối phương và làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Cao Lãnh là khu vực tập kết 100 ngày để bên ta chuyển quân ra Bắc. Trong khoảng thời gian đó, bộ đội và những người tham gia kháng  chiến  được  học  tập  chính trị, quán triệt  tư tưởng,  sắp  xếp số đi, số ở lại. Đồng  chí Hai Phối, lúc này là Phó Bí thư/Chủ tịch Uỷ ban  Kháng chiến  Hành chánh tỉnh Long Châu Sa, sau khi hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình, đồng chí mới hỏi riêng nguyện vọng của tôi: “Lúc này đi là vinh  quang, ở là anh  dũng.  Vậy chú muốn đi hay muốn ở lại?”. Tôi nói: “Tôi sanh ra có sở trường và sở thích là trực tiếp cầm súng chiến đấu, đi hay ở là do cấp trên sắp xếp, tôi sẽ chấp hành. Còn nếu ở lại, đồng chí cho tôi xuống đơn vị nào, địa phương nào, mặt  trận nào cũng được miễn là được tiếp tục cầm súng chiến đấu”. Sau đó, tôi được tổ chức  sắp xếp phân công ở lại. Trong  giờ phút khẩn  trương  đó, nhiệm vụ nào  cũng  đều quan trọng  cả nên  tôi không  đắn  đo, suy nghĩ  nhiều mà chỉ nghĩ  Đảng  giao nhiệm vụ thì phải  hoàn thành. Ngoài ra, tôi còn biết một số cán bộ quân sự cấp trung đội, đại đội cũng được giữ lại làm nòng  cốt xây dựng  lực lượng vũ trang  sau này.

Trong những ngày bộ đội tập kết, cấp trên  giao cho tôi nhiệm vụ là tuyên truyền trong quần chúng nhân dân  về hiệp  định,  tổ chức  quần chúng tham gia mít  tinh  mừng  hiệp định,  vận động  các mẹ, các chị đan nón  nan  tặng chiến  sĩ, tổ chức đón tiếp thân nhân cán bộ, chiến  sĩ đến thăm và đưa tiễn con em mình lên tàu ra Bắc... Tôi còn nhớ, tất cả những gia đình  có người thân đi tập kết ngày ấy đều dặn  dò con em mình phải  luôn  khắc ghi hai tiếng “miền  Nam” trong  lòng. Ở miền  Bắc xa xôi, phải cố gắng học hành, rèn luyện cho tốt để hai năm  sau trở về miền  Nam phục vụ bà con mình. Nhiều  người trong  số đó đã không ngờ rằng mãi đến  hai mươi năm  sau, lời hứa hẹn  đó mới trở thành hiện  thực.

Cán bộ ở lại ngoài  việc học tập các tài liệu của Trung  ương, còn được triển  khai Chỉ thị ngày 27 tháng 8 năm  1954 của Tỉnh uỷ để giải quyết  các vấn đề về tư tưởng  như:  bi quan dao động,  ngại khó ngại khổ, không  thấy rõ tương quan lực lượng giữa ta và địch một cách đúng  đắn,  thiếu tin vào khả năng  đấu  tranh của quần chúng, chưa  thấy  hết âm mưu  kéo dài, mở rộng chiến  tranh của Mỹ nên không tin tưởng vào sách lược mới v.v... Là một chính trị viên đại đội, bản thân tôi cũng dự đoán được bản chất lật lọng của kẻ thù nên  trước khi đi, tôi có nói với một  số anh  em rằng các anh  đi rồi nhất định  có ngày sẽ trở lại chiến  đấu để giải phóng quê nhà. Hãy nhớ miền  Nam đã thành máu thịt của các anh. Người thân của các anh  đang  chiến  đấu ở quê nhà,  chúng ta sẽ gặp lại trong  niềm  vui chiến  thắng. Chỉ có điều, niềm  vui ấy không  phải hai năm  mà phải mất hai mươi năm, cả dân tộc ta mới giành thắng lợi trọn  vẹn, giải phóng miền  Nam,  thống nhất đất nước.

Trong thời gian tập kết, tỉnh  Long Châu Sa giải thể, lập các tỉnh  Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc (theo  địa danh tỉnh  của địch). Tỉnh uỷ Sa Đéc do đồng chí Nguyễn  Văn Phối làm Bí thư. Hướng chung là rút vào hoạt động bí mật, tranh thủ thế công khai hợp pháp của người dân,  hòa mình trong  quần chúng. Nơi nào thuận lợi thì ta tranh thủ xây dựng cơ sở bí mật chuẩn bị đối phó  với địch,  nơi nào  còn yếu thì đến  giúp đỡ, tổ chức  lại cơ sở, ở tất cả các xã. Số lộ không  thể  duy trì ở địa phương thì chuyển vùng  khác  để hoạt  động.  Đảng  viên tập hợp thành tổ tam tam.  Mạnh dạn đưa những đảng  viên thành phần không  đảm  bảo ra khỏi cấp uỷ. Ngoài ra Tỉnh uỷ còn bố trí một  số cán bộ công an, quân báo (cũ) làm nhiệm vụ giúp cấp uỷ nắm  địch tình.  Nói chung, hoạt  động  trong  thời gian này rất gian truân, có khi chúng tôi phải ở dưới hầm  bí mật hàng tuần lễ, đem theo cơm khô xuống ăn. Trong khi đó, địch thì được nước lấn tới, chúng tìm cách trả thù gia đình  đi theo  kháng  chiến. Bọn tề xã, các lực lượng giáo phái  ra sức đàn  áp, trả thù, bắt bớ, khó dễ đồng  bào, giết hại cán bộ ta. Ở một số địa phương nhất là vùng căn cứ, cán bộ quen tác phong công khai, khi chuyển vào bí mật  thấy khó khăn  lúng túng,  chưa  chủ động  được công việc. Nơi thì tổ chức chưa khéo làm nhân dân hoang mang, nơi thì cán bộ chuyển về không lâu cũng lộ mặt. Sau này, địch  tăng  cường  đàn  áp, khủng  bố, cấp trên  xác định  phải  xây dựng  lực lượng để đối phó với địch.  Ta bí mật  thành lập hai trung đội, trên  ba mươi  người một  trung đội. Lực lượng này làm nhiệm vụ trấn  áp những tên  ác ôn, bảo  vệ cán  bộ, bảo  vệ phong trào  đấu  tranh chính trị của nhân dân,  phá  thế kìm kẹp của địch.  Trung  đội tôi phụ  trách  hai huyện Cao Lãnh và Cái Bè (Mỹ Tho).

Những  ngày đầu mới thành lập, đơn vị còn thiếu thốn võ khí, súng đạn. Quá trình chiến đấu và trưởng  thành dần dần được trang bị thêm, lực lượng cũng được tăng cường. Khoảng đầu năm  1958, trung đội tôi tổ chức diệt tên Quang  Tuyến, một tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân,  ở xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh.  Sau một  thời gian nghiên cứu nắm  bắt  quy luật đi lại của nó, chúng tôi quyết  định  hành động. Hôm đó, hắn cùng với mấy tên lính vào quán ăn uống,  tôi cử hai đồng  chí cũng giả làm khách vào quán ăn, trong  lúc chúng sơ hở hai đồng chí của ta rút súng ngắn  bắn chết tên Tuyến tại chỗ, mấy tên lính đi theo thấy vậy hoảng hồn  bỏ súng chạy. Sau khi ta tiêu diệt được tên này, bọn  tề xã ở xa đồn  bót cũng dè chừng, bớt manh động,  không  dám  hung  hăng  nữa,  phong trào  trừ gian, diệt tề trong  hai huyện Cao Lãnh và Cái Bè cũng được đi lên. Tháng tám năm  1958, tôi nhận nhiệm vụ phải về Mỹ Tho gấp. Trời chập  tối tôi đi ngay, nào  ngờ qua  địa phận huyện Cái Bè thì bị địch phục kích và bị bắt.  Lúc này, vợ tôi đang  mang bầu  đứa  con  đầu  lòng. Chúng  đưa  tôi về Vĩnh Long xét xử rồi tuyên án tôi năm  năm  khổ sai ngoài  Côn Đảo. Năm năm  ở “địa ngục trần  gian” tôi tiếp tục tham gia vào tổ chức đảng  trong  tù. Đó là những năm  tháng chờ đợi dài đằng  đẵng,  không  tin tức, không  liên lạc được  với gia đình,  vợ con.  Trong  khi phong trào cách mạng ở miền  Nam nói chung và tỉnh  nhà  nói riêng đang  đi lên một  khí thế mới. Ra tù, tôi trở về quê nhà, thông qua đồng đội và tổ chức tôi trở lại huyện đội Cao Lãnh. Sau đó, tôi được về nghỉ dưỡng  khoảng hai mươi ngày thì tiếp tục “vô đồng”,  bấy giờ là những năm  ác liệt thời kỳ chống Mỹ.

Vậy là, tính từ ngày đầu bí mật tham gia hoạt động cách mạng, khi mới mười bảy tuổi đầu, đến  ngày rời quân ngũ, tôi đã tròn  nửa thế kỷ theo  Đảng và Bác Hồ. Trong nửa thế kỷ đó, cùng với đồng chí, đồng đội, trải qua bao khó khăn,  gian khổ trên những nẻo đường  kháng chiến. Dù trong  lao tù của đế quốc,  những năm  tháng nếm  mật  nằm  gai hay trong  những ngày làm nghĩa  vụ quốc  tế trên  đất bạn Campuchia, tôi vẫn sắt son một niềm  tin thắng lợi cuối cùng  của cách mạng. Chỉ có sự kiên trung bất khuất của những người cộng sản cùng mục  tiêu  lý tưởng  thì kẻ địch  sẽ không  làm gì được.  Sự lãnh  đạo,  dìu dắt  của  Đảng,  tình cảm và sự giúp đỡ của nhân dân,  động  viên của đồng  đội, gia đình  là nguồn sức mạnh để tôi vượt qua mọi gian nguy, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ của một chiến  sĩ cách mạng, một  người lính Cụ Hồ.

Trương Vạn Năng (Thế Thưởng thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: