trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Chúng tôi ở lại

Trước ngày 11 tháng 8 năm  1954, thời điểm quân đội hai bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên hiệp  Pháp  phải  ngừng  bắn  ở Nam Bộ, tôi đang  ở căn cứ kháng  chiến  tại hậu  Thanh Bình (vùng  ông  Bảy Thực,  ông  Bảy Tẹn), thuộc bộ phận thông tin báo chí của Ban Tuyên huấn tỉnh Long Châu Sa. Đình chiến, chúng tôi được lệnh di dời về nhà dân  ở xã Mỹ Trà, Cao Lãnh, phía  dưới cầu Đình Trung, cặp mé sông Đình Trung (phía  sau Công ty Domexco hiện  nay) “ôm” theo  cái đài Minh  ngữ (Thông  tấn).

Đài và báo chung bộ phận và tôi thường viết bài cho báo. Lúc ấy anh  Lâm là chủ bút tờ báo. Báo có tên Cứu quốc tỉnh  Long Châu Sa, ra một tháng hai kỳ, sau tăng lên mỗi tuần ra một kỳ, khuôn khổ gần bằng tờ báo Nhân Dân ngày nay. Bố cục tờ báo cũng đủ thể loại: tin chiến  sự, truyện ngắn,  ca dao, thơ, hò vè... Báo phát hành theo  đường  giao liên gởi xuống huyện, xã, các đồng  chí lãnh  đạo  Tỉnh uỷ và các cơ quan của tỉnh.  Lúc này ta đang  ở thế thắng và địch thì co cụm lại. Khi ta đánh đồn, chủ yếu là bao vây, kêu gọi, địch hoang mang rút chạy. Đồn bót ít bung  ra ruồng bố như  trước.

Đài Minh ngữ do tôi và anh  Chí (Tư Đen) đảm  trách. Chúng  tôi lấy tin, bài của Tỉnh rồi đánh morse lên đài Trung ương Cục miền  Nam. Mỗi ngày tụi tôi chia nhau làm việc từ 3-5 phiên. Lúc ấy phương tiện  của Pháp  còn dở nên  việc thu  phát của đài hầu  như  không  bị phát hiện. Thời gian 100 ngày đình  chiến, đài tập trung đưa tin tình hình chuyển quân, tập kết, những âm mưu  của kẻ thù  và địch  phá  hoại  Hiệp  định... Bên cạnh niềm  tin và phấn khởi trước thắng lợi chung của cả nước là chiến  tranh kết thúc,  hòa bình  lập lại, nửa nước được giải phóng hoàn toàn,  mọi người vẫn lo lắng: Liệu kẻ thù có tôn trọng  thi hành Hiệp định  hay không?  Chiều  tối, tôi diện  bộ đồ đen  hay mặc  trong  căn  cứ, ghé qua  thăm nhà nhưng cũng không bao giờ dám ngủ lại bởi gián điệp vẫn “nhung nhúc” xung quanh, mình lơ là mất  cảnh giác có khi mất  mạng.

Hai tháng đình  chiến  qua đi thật  nhanh, chỉ còn bốn  mươi ngày nữa kết thúc  100 ngày. Anh Bính là Thường  vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Long Châu Sa kêu tôi tới làm việc. Anh hỏi tôi: “Muốn đi hay muốn ở?”. Không suy nghĩ, tôi cười nói: “Đi thì khoái  và ở cũng thích”. “Chú nói vậy là sao?” anh  hỏi. Tôi nói: “Đi tập kết sẽ được học hành, sẽ tiến bộ sau này (lúc ấy tôi mới học xong lớp Nhứt),  nhưng ở lại sẽ được hoạt động bí mật  kiểu tình báo”. Bởi lúc ấy tôi mới 22 tuổi,  cái tuổi  thanh niên  trẻ trung rất thích  mạo  hiểm.  Tôi tuy không  nói ra nhưng cũng thầm nghĩ, đi thời gian chỉ có hai năm, quá ngắn,  không  biết có kịp học gì không! Lúc ấy anh  Bính mới cười nói: “Thường  vụ Tỉnh  uỷ quyết định chú ở lại phụ  trách điện đài”. Anh còn dặn  tôi không  đi lung tung  nữa,  sợ ở lại bị lộ rất nguy hiểm. Vậy là hơn một tháng nữa anh  em bộ đội háo hức chuẩn bị xuống tàu thì tôi gần như phải cấm trại dù gia đình  ở ngay xã Mỹ Trà này.

Theo kế hoạch, ngày 29 tháng 10 năm  1954 anh em xuống tàu chuyến cuối cùng, hết 100 ngày tập kết quân tại Cao Lãnh, ta phải bàn giao lại địa bàn cho Liên hiệp Pháp. Sau đó toàn bộ các Tỉnh uỷ và bộ phận trực thuộc được  bố trí ở lại rút vào hoạt  động  bí mật.  Tỉnh uỷ Long Châu Sa giải thể, lập các Tỉnh uỷ: Sa Đéc, Long Xuyên và Châu Đốc. Tỉnh uỷ Sa Đéc do đồng chí Nguyễn Văn Phối làm Bí thư. Ban Tuyên huấn tỉnh Sa Đéc có năm đồng chí: anh Lê Thái (Bảy Hiệp), tôi, anh Tư Tranh, anh Tước (Bảy Hắc) và anh Trinh (Năm Huỳnh). Trước đó mỗi người ở lại đều được

giao một  cái xuồng,  kéo lên bờ  trét  dầu   chai  thật   kỹ. Chiều  tối ngày 28 tháng 10, năm  anh  em  xuống  xuồng chở  đồ  đạc,  tài liệu  bí mật bơi xuồng  về xã Bình  Hàng Trung  và được  bố trí vào ở nhà  dân,  khu  vực chùa  Tổ. Anh Lê Thái và tôi được  bố trí ở chung trong buồng một nhà dân, tối mới đi ra ngoài.

Đài  vô  tuyến điện   báo dùng  để thu  tin là chính (ít dùng để liên lạc). Chúng  tôi thu tin trong nước, thế giới chọn tin biên soạn lại, đưa anh Bảy Hắc đánh máy. Đánh máy xong chuyển qua anh  Năm Huỳnh quay ronéo ra tài liệu tuyên truyền đưa giao liên đi phát hành. Máy quay  ronéo cồng kềnh  lại phải  di chuyển liên tục trong  vùng địch rất khó khăn  nên  sau chúng tôi không  quay ronéo nữa mà chuyển qua in bột.  Tôi nhờ  mua  bột  gạo làm bánh, nhồi  nước  cho  thật  dẻo,  trải đều  lên lớp khuôn vừa khổ tờ giấy. Dùng  mực  tím thắng thật  kẹo viết lên tờ giấy học trò, úp mặt  chữ lên khuôn bột, mực dính  vô bột, gỡ bản  thảo  rồi lấy giấy trắng  úp vô in. Cứ mỗi lần in được khoảng vài mươi bản.  Sau tôi nghĩ ra, thay mực viết học trò bằng  mực nhuộm chiếu,  nấu  hơi đặc lại thì mỗi lần in tăng lên được sáu mươi trang.  Nội dung cơ bản giai đoạn này chủ yếu đấu tranh chính trị đòi địch thi hành Hiệp định  Genève.  Xác định  ở lại lẽ tất nhiên sẽ phải  đối mặt với bao hiểm  nguy cận kề bởi lúc này so sánh  lực lượng giữa ta và địch thì ta có nhiều bất lợi vì chính quyền, quân đội của ta đã tập kết ra Bắc, vùng giải phóng không  còn, trong khi đó chính quyền, quân đội địch vẫn giữ nguyên và được tăng thêm gấp bội.

Nhưng  còn  hơn  cả chúng ta dự đoán. Khi chuyến tàu  cuối  cùng  nhổ  neo,  kẻ địch  đã công  khai tuyên bố không  thi hành Hiệp  định  Genève,  bắt  đầu  chuỗi ngày khủng  bố, trả thù  người kháng  chiến  cũ với vô vàn thủ  đoạn nham hiểm,  tàn khốc. Chúng  phát động  tố Cộng kết hợp bố ráp, cướp phá, bắt thủ tiêu người tình nghi, giết người, giam cầm gia đình cán bộ, buộc  phải  kêu chồng con ra đầu thú hoặc  làm đơn ly dị chồng, từ bỏ con. Buộc tù nhân chính trị phải  ly khai Đảng,  xé cờ Đảng,  ảnh  Bác, v.v... Đã có rất nhiều đảng  viên bị địch sát hại, nhiều đồng chí bị bắt bị tù và có người không  chịu nổi tra tấn, cực khổ đã đầu hàng  địch giai đoạn này.

Trong tình hình địch đánh phá liên tục và ngày càng ác liệt, chúng tôi vẫn giữ được hoạt động bí mật trong dân. Cảnh giác hơn, cứ ở một thời gian ngắn lại di chuyển chỗ khác sợ bị lộ. Bộ phận đài đã phải  di chuyển liên tục từ Mỹ Trà tới Cù lao Tây (Tân Huề, Tân Quới), ở hậu Thanh Bình, Thanh Mỹ của Tháp Mười, Tân Khánh Đông Sa Đéc, Mỹ An Hưng... dùng giấy tờ giả do anh  Nhật,  quê Mỹ Trà, thư ký Văn phòng Tỉnh uỷ cung  cấp. Và nhờ dân  che chở, đùm bọc,  tôi đều  thoát được  kẻ thù  có lúc chỉ trong  gang  tấc. Chúng  tôi đã giữ liên lạc thông suốt bằng giao liên công khai và bí mật xuống các huyện xã kể cả những lúc gian nguy nhứt.

Tôi nhớ  vào năm  1958, khoảng ba bốn  giờ sáng  tôi vô nhà  anh  Minh  ở kênh  Tây Xếp, huyện Cao Lãnh. Điện đài và tài liệu mới in tôi để ở trên xuồng. Vừa hỏi vợ anh vài câu, chị ấy chỉ ra trước  sông, tôi nhìn lại, giật mình thấy lớp lớp xuồng  địch  vừa trờ tới dưới sông. Tôi ra hiệu cho anh  Thao em anh  Minh, tôi có đồ dưới xuồng nhờ anh  ra bơi đi. Anh Thao chạy về phía  xuồng.  Địch trên  xuồng la: Thằng  kia, đứng lại. Tôi dặn  nhỏ  chị Minh không biết gì về tôi. Xong, tôi chạy ra sau nhà  lủi vào đám  ruộng bườn  ra xa luôn.  Sau đó chúng bắt hai anh  Minh  và Thao về đồn  đánh đập,  khảo tra chán chê nhưng không  moi được gì, sau chúng phải thả về (anh Minh sau này là cha vợ anh Hai Lương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh).  Rồi có lần một  chiến  sĩ bảo vệ vòng ngoài  của Tỉnh uỷ đã ra đầu  thú.  Thằng này biết cặn kẽ gia đình  tôi. Tôi ở nhà thứ Bảy nhưng khi đi hoạt  động lại lấy thứ Tám. Tên này dẫn  lính tới nhà,  nói Tám Mến là con ông bà, là cộng sản. Má tôi chỉ anh  tôi thứ Bảy chết  “ngồi” trên  bàn  thờ, đứa  em gái thứ Tám đang  ở nhà.  Bà hỏi lại tụi lính: “Đẻ đâu  ra cái thằng  thứ Tám ở giữa hai đứa này nữa...”.  Do nhà  tôi hay chuyển nhà  nên  tụi lính cho rằng thằng chỉ điểm  đã chỉ tầm bậy, bỏ đi luôn.  Thế cho nên  nhớ lại, ai nghĩ ra cái việc đổi tên,  đổi thứ khi bắt  đầu  vào căn  cứ, tuy là chuyện nhỏ  nhưng cũng  tránh được  rất nhiều tổn thất  cho cách  mạng.

Nhớ lại cuộc  chia  tay vì nghĩa  lớn thiêng liêng, cao cả nhưng hết  sức cảm  động  trong những ngày sôi động ấy, đã mấy chục năm  qua rồi nhưng vẫn hằn rất sâu trong tâm trí của tôi. Vì Tổ quốc  Việt Nam, chúng tôi, những người ở lại đã kiên cường,  hiên  ngang  đối mặt trực diện với quân thù, hiến dâng  cả thời trai trẻ, cả máu  xương bao liệt sĩ đã ngã xuống để giành  độc lập, tự do cho dân  tộc hôm  nay.

Con tàu đưa bộ đội ra đi, nhưng tất cả chúng tôi ở lại đều không  nghĩ khoảng thời gian các anh  trở về lại gấp hơn cả mười lần con số hai năm.

Nguyễn Ngọc Tuấn (Tám Mến) (Phạm Thị Toán thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: