trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Đồng đô la trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Năm  1954, cuộc  kháng  chiến  oanh liệt của  nhân dân  ta chống quân Pháp  xâm lược đã bước sang năm  thứ chín.  Mùa xuân năm  ấy dường  như  có cái gì khác lạ hơn mọi năm. Bộ đội Nam Bộ ăn Tết tưng bừng hơn, rộn rịp hơn. Khẩu hiệu “TÍCH CỰC GIẾT GIẶC, LẬP CÔNG’’. “ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH’’ dán  khắp  nơi. Quân  địch co cụm  lại. Sức càn quấy của chúng giảm hẳn  đi. Người ta thầm chúc  cho nhau những ước vọng sâu xa, những điều thiêng liêng nhất, những gì mà lời nói không đủ sức diễn đạt. Dân chúng đồn đoán xì xào về con số 54; đó là con số 9, con số hên! Cũng con số 9, năm  45, nước nhà độc lập. Biết đâu 54, kháng  chiến  sẽ thành công! Cả nước đốc sức cho một  mùa  xuân tràn  đầy hy vọng.

Ngày 07-5-1954, quân ta đại thắng ở Điện Biên Phủ. Để tránh thảm bại hơn nữa, ngày 20-7-1954, chính phủ  Pháp  phải  ký Hiệp định  đình  chiến  với chính phủ  ta. Hiệp định  Genève ra đời. Lệnh tập kết quân đội hai bên  được ban  hành.

Cũng như  mọi cán bộ khác, ông Mười Thăng  Long cùng  gia đình  kéo về khu tập kết Cà Mau, chờ đợi sự phân công. Nhưng  cuối cùng,  chỉ có những người thân của ông đi ra Bắc. Ông Mười được  chỉ định  ở lại hoạt  động.  Ông lưu luyến  tiễn  đưa gia đình  rồi bắt  tay vào nhiệm vụ mới.

Trong  số những người được  phân công  ở lại, ông Năm  Quang  là người bị bất  ngờ hơn cả. Vì ông đi trên  chuyến tàu chót  để ra Bắc, ghé qua Cà Mau thì được ông Tư Lầu giữ lại.

Ông Năm Quang  thuộc loại người năng  nổ, gan dạ, thích  hoạt  động  sôi nổi, pha  chút  liều lĩnh.  Ở lại làm  cái món  tiền  nong,  ông  thấy  không  ham.  Không  ngờ, chính chuyện tiền nong,  cái trận  tuyến thầm lặng đầy kịch tính  và nguy  hiểm  này lại là đất  cho  ông tha  hồ dụng  võ. Và ông đã viết nên  những trang  sáng chói trong  quá  trình vật lộn, đấu  trí ngoạn mục  với quân thù,  như  một  tay tình  báo bản  lĩnh ở Sài Gòn. Ông đã từng bị địch bắt vì có kẻ phản bội điềm  chỉ. Nhưng  địch  không  moi được  bí mật  ở ông suốt  những năm  tháng giam cầm,  hành hạ ông.

Quân  ta đi rồi, người ở lại rút vào bí mật  với nhiệm vụ mới. Cung cách  hoạt  động  phải phù  hợp với hoàn cảnh mới. Đảng sống giữa lòng dân.  Quân  thù thì thâm độc, ra sức kềm kẹp dân,  tách  rời dân  với Đảng  để tiêu  diệt  Đảng.  Cuộc  đấu  tranh sinh  tử bắt  đầu.  Địch là kẻ đang  nắm  chính quyền. Chúng  đang  tạm  thời mạnh. Ta phải  chuyển từ thế yếu đến thắng lợi là cả một  kỳ công, chẳng khác nào  châu  chấu  đá voi, nhưng ta nhất định  thắng. Anh em thường tâm  đắc với hai câu thơ mộc mạc đầy hào khí của Hồ Chủ tịch:

Nay tuy châu chấu đá voi

Nhưng mai  voi sẽ phải  lòi ruột ra

Tất cả một  lòng, đi vào cuộc tử chiến  và hẹn  gặp nhau trong  ngày hội ngộ non  sông. Hiệp định  Genève  chưa  ráo mực,  đế quốc  Mỹ và thực  dân  Pháp  đã cấu kết nhau xé bỏ

Hiệp định,  cự tuyệt  tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam. Không gì dễ hiểu bằng  đọc những lời sau đây của tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Ai-xen-hao, trong  tập hồi ký của chính ông ta: “Mọi giới quan sát có hiểu biết về tình  hình Việt Nam đều kết luận  rằng, nếu  tổng  tuyển cử được tổ chức  thì Chủ tịch Hồ Chí Minh  sẽ giành  được tám  mươi  phần trăm  số phiếu ủng hộ của nhân dân; và Mỹ thì hoàn toàn  không  thú vị trước viễn cảnh của một  nước Việt Nam cộng sản, dù đó là ý nguyện của nhân dân  nước này”.

Thế rồi, Mỹ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào Việt Nam và Đông Dương với mưu đồ biến Đông Dương  thành thuộc địa kiểu mới,  thành căn  cứ quân sự chiến  lược, thành phòng tuyến chống Cộng của Mỹ ở Đông Nam Á.

Nhưng  đế quốc  Mỹ vốn quen khinh  người,  tự kiêu  đến  mù  quáng, chủ  quan. Chúng không  đo được  sức mạnh yêu nước  của  nhân dân  Việt Nam  nên  tính  một  đường  ra một nẻo.  Chúng  đã vấp phải  sức giáng trả không  hình dung  nổi của nhân dân  ta.

Đồng đô la Mỹ bước vào đất nước Việt Nam từ buổi đầu qua dáng vẻ thanh lịch trong bộ y phục ngoại giao của các ngài cố vấn Mỹ đến lúc sỗ sàng trong  bộ quân phục rằn ri nhiều túi của những tên lính viễn chinh. Đồng tiền như hột máu đỏ nuôi cơ thể; nó là nguồn sinh lực vật chất  cơ bản  của cuộc chiến  tranh xâm lược Mỹ qua các giai đoạn khốc liệt.

Để có đồng  tiền riêng, ngụy quyền Sài Gòn đã thành lập một  Ngân hàng  Quốc gia theo dụ số 48, ngày 31-12-1954 và bắt đầu  hoạt  động  ngay từ đầu  năm  1955.

Theo dụ số 48, Ngân hàng  Quốc gia được trao đặc quyền phát hành giấy bạc và tiền kim khí, với điều kiện lý thuyết là phải  giữ một dự trữ vàng và ngoại tệ ít nhất bằng  ba mươi ba phần trăm  tổng số tiền được phát hành. Ngân hàng  Quốc gia ngụy cũng  được giao nhiệm vụ ứng tiền cho chính phủ để bù đắp cho số thiếu hụt của ngân  hàng nhà nước. Ngân hàng Quốc gia còn giữ nhiệm vụ kiểm soát các ngân  hàng tư nhân và cho các ngân  hàng tư nhân vay. Các ngân  hàng  tư nhân bắt buộc  phải  ký gởi tại các Ngân hàng  Quốc gia một  số tiền “dự trữ tối thiểu” ít nhất bằng  mười phần trăm  số tiền  ký gởi của khách hàng.  Ngân hàng Quốc gia được quyền thay đổi tỷ lệ tối thiểu này để điều  tiết lưu thông tiền tệ.

Đồng  đô la Mỹ chính thức  thâm nhập vào Việt Nam  từ năm  1955. Mặc dù  nó  không phải  là thứ  tiền  lưu hành chính thức  ở miền  Nam  như  tiền  Đông  Dương  của  Pháp  ngày xưa, nhưng cùng với sự can thiệp ngày càng sâu, viện trợ ngày càng tăng của Mỹ vào miền Nam, ảnh  hưởng  của đồng  đô la ngày càng lớn, chi phối  toàn  bộ hoạt  động  kinh tế, tiền tệ ở miền  Nam, nhất là thời kỳ Mỹ đem  quân ồ ạt vào miền  Nam. Báo chí miền  Nam đã viết: “Vấn đề đồng  Mỹ kim đã trở thành một  vấn đề huyết  mạch cho đời sống kinh tế tại miền Nam từ ngày quân đội Hoa Kỳ có mặt  tại chiến  trường  miền  Nam”.

Nguồn đô la Mỹ nhập vào miền  Nam  trước  hết là do viện trợ Mỹ, vì ngoài  vật tư, hàng hóa, Mỹ còn viện trợ cả đô la cho ngụy quyền Sài Gòn. Mặt khác, tuy chính phủ  Mỹ có đổi cho ngụy quyền Sài Gòn một  số đô la lấy tiền  Sài Gòn để chi cho quân đội và cố vấn Mỹ đóng ở miền Nam, nhưng còn một nguồn khác không kém quan trọng là do cố vấn và quân nhân Mỹ hoạt  động  ở miền  Nam  được  trả lương bằng  đô la. Họ đem  đô la ra xài ngay tại miền  Nam.  Việc mua  bán  đô la công khai và giấu giếm trên  thị trường  đã làm điên  đầu  cả chính phủ  Mỹ lẫn ngụy  quyền Sài Gòn. Báo chí không  ngớt  đưa  tin về chuyện này. Cuối cùng hai bên phải đi đến ký kết bản thỏa hiệp ngày 04-8-1965 cho phép Mỹ được phát hành loại tiền dùng  riêng cho quân đội Mỹ (còn gọi là đô la đỏ).

Do các hoạt  động  chợ đen  nên  thị trường  giá cả ngoại  tệ và vàng bạc rất hổn  loạn theo chiều  hướng  đồng  tiền  Sài Gòn ngày càng  mất  giá, vàng và ngoại  tệ ngày càng  lên giá. Từ chỗ lúc đầu  có qui định  hối suất  thống nhất năm  1955 là 35 đồng/USD, đến  năm  1966 tỷ giá trên  thị trường  chợ đen  là 500 đồng/USD.

Sự việc diễn  biến  một  chiều  từ thời Ngô Đình  Diệm  cho đến  khi chấm dứt cuộc  chiến tranh xâm lược của Mỹ là chính quyền Sài Gòn không ngừng bất lực. Ví dụ, luật số 10/1970 thiết  lâp thị trường  hối đoái  song  hành, nghĩa  là ngoài  tỷ giá chính thức,  118 đồng/USD, còn cho một  số nghiệp vụ mua  275 đồng/USD nhằm thu  hút  ngoại  tệ về cho chính phủ. Đến năm  1973, chính quyền Sài Gòn lại đưa ra biện  pháp “hối suất  di động”,  có nghĩa  là thả  nổi đồng  tiền.  Nhưng  tất cả đều  vô ích. Không thể nào  ngăn  được  nạn  buôn lậu tiền, không thể nào phanh nổi đà mất giá của đồng tiền Sài Gòn. Cho nên ngụy quyền phải chính thức  phá  giá đồng  tiền  Sài Gòn mấy  lần. Từ chỗ  35 đồng/USD (1955) đến  80 đồng/USD (1963), rồi 118 đồng/USD (1965), 275 đồng/USD (1970) và đến  1973 thả nổi đồng  tiền; giá hối đoái do Hội đồng  Hối đoái ấn định  theo  diễn  biến  của thị trường. Trong năm  1973, có đến  mười lần thay đổi hối suất.  Trung  bình  cứ gần một  tháng phải  tăng  hối suất  một  lần. Tình thế ngày càng bi đát, ngụy quyền Sài Gòn phải  đề ra hai phương sách  nỗ lực. Một là tiết kiệm để tự túc. Hai là vòi viện trợ tối đa. Nhưng  cả hai đều nhận kết quả trái ngược. Tự lực thì không  làm nổi. Viện trợ thì chẳng những không  tăng  mà lại ngày càng  ít đi. Ngụy quyền Sài Gòn mắt  một  chứng  nan  y vô phương cứu chữa.

Khi sắp kết thúc  đợt chuyển quân tập  kết ra miền  Bắc, Xứ uỷ Nam  Bộ được  thành lập, thay thế cho Trung ương Cục miền Nam. Ban Tài chánh Xứ uỷ cũng được thành lập với vốn liếng ít ỏi là một số tiền Đông Dương ngân  hàng  có trong  tay. Ông Tư Lầu, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ làm Trưởng ban  Tài chánh. Ông Tư Võ làm phó  ban,  cùng  với một số cán bộ đầu tiên gồm có Ba Kinh, Ba Truyền, Hai Bửu, Thanh Quang,  Năm Vàng và Mười Thăng  Long.

Trước hết,  Ban Tài chánh Xứ uỷ tạo  một  số cơ sở kinh  doanh hợp  pháp để làm  bình phong hoạt  động.  Các Tỉnh  uỷ cũng  có cơ sở tự lực hoàn toàn.  Các cơ sở làm  tài chánh này được phân vùng, phân tuyến và ngăn  cách,  giữ bí mật  thật  kỹ để lỡ có lộ thì thiệt  hại không  lan rộng.

Địch đánh phá  ráo riết các cơ sở cách  mạng, phát động  chiến  dịch  tố Cộng cực kỳ tàn bạo. Không khí tang tóc trùm lên cả miền  Nam. Các cơ sở làm tài chánh của Đảng bộ Nam Bộ tượng hình trong một hoàn cảnh rất khó khăn. Nhiều cơ sở tài chánh bị bể. Vì vậy, bước qua  năm  1958, cách  mạng phải  thu  xếp thanh lý các cơ sở có nguy cơ bể, cho cán  bộ cốt cán tạm  lắng không  hoạt  động  hoặc  chuyển vùng.

Giữa năm  1958, ông Tư Lầu và Ban Tài chánh Xứ uỷ di chuyển lên Campuchia, gầy dựng lại cơ nghiệp để phục vụ cuộc kháng  chiến  chống Mỹ cứu nước lâu dài ở miền  Nam.

Cuối năm  1959, Trung ương ra Nghị quyết  15, cho miền  Nam tiến hành đấu tranh cách mạng võ trang  vì Mỹ ngụy  đã hoàn toàn  xé bỏ Hiệp  định  Genève.  Các tổ chức  tài chánh của Đảng được tạo nên  ở Campuchia lần lượt chuyển về căn cứ miền  Đông Nam Bộ. Tiếc thay,  tháng 12 năm  1959, ông Tư Lầu qua  đời. Ban Tài chánh Xứ uỷ mất  người đứng  đầu sáng suốt,  trung kiên.

Từ đầu  năm  1960, Xứ uỷ Nam  Bộ do đồng  chí Mười Cúc làm Bí thư,  bắt  đầu  xây dựng căn cứ địa và lực lượng võ trang  tại chiến  khu miền  Đông Nam  Bộ, gồm có ba khu: khu A là vùng  Mã Đà, khu  B là vùng  Suối Nhung, khu  C là vùng  Tân Biên - Dương  Minh  Châu (thuộc tỉnh  Tây Ninh,  giáp với Camphuchia).

Đã phất cờ cho miền  Nam  tiến  hành đấu  tranh võ trang  thì tất nhiên Trung  ương phải chi viện vật chất, tiền nong cho chiến  trường. Cùng với những người con miền  Nam tập kết vượt Trường Sơn trở về Nam chiến  đấu,  đồng  tiền cứu nước cũng  lên đường.

Anh Bảy Hiển (nguyên trợ lý của đồng chí Phạm Hùng;  lúc đó, đồng chí Phạm Hùng là Phó Thủ tướng  kiêm Trưởng Ban viện trợ cho miền  Nam của Trung  ương) kể lại như  sau:

“Từ sau Nghị quyết  15 của Trung ương, Bộ Chính  trị chủ trương  phát triển  quân lực của ta, trước  hết ở miền  Đông Nam  Bộ, nhằm tạo những cú đấm  mạnh đủ sức gây thối động, hỗ trợ cho đấu  tranh chính trị.

Nếu  như  trước  đó, nhu  cầu  tài chính không  lớn trong  đấu  tranh chính trị thì nay, với tốc độ phát triển  của bộ đội chủ lực Miền và bộ đội địa phương khắp  miền  Nam,  việc giải quyết  hậu  cần cho chiến  trường  trở thành vấn đề cấp bách.

Đường Hồ Chí Minh lúc ấy còn là đường  mòn. Người đi bộ chỉ có thể mang theo  vũ khí nhẹ.  Vũ khí nặng  và đạn  dược với khối lượng lớn bắt đầu  được đưa vào bằng  đường  biển. Lương thực,  thực phẩm và các nhu  yếu phẩm khác thì hậu  cần có tiền mua  tại chỗ.

Trong một  số năm  sau 1960, cách chi viện tiền cho chiến  trường  B2 (Nam Bộ và Khu 6) là đưa đô la Mỹ cho một  tổ chức tài chánh đặc biệt do anh  Mười Thăng  Long phụ  trách  ở trong  Nam.

Tại Cục Ngoại hối của Ngân hàng  Trung ương ở Hà Nội có giữ một quỹ mật đô la Mỹ do nước bạn viện trợ, dành cho miền  Nam. Anh Hai Hùng (tức đồng chí Phạm Hùng) là người quyết  định  sử dụng  quỹ này.

Phải làm sao đưa được một khối đô la tiền mặt lớn, mỗi lần vài ba triệu đến chiến  trường vừa nhanh vừa an toàn?  Và không  phải  chỉ một  vài lần mà  nhiều lần như  vậy trong  một năm. Công việc này được thực hiện  như  sau:

Khi cần đưa tiền  đi, anh  Hai Hùng  điện  gọi anh  Thùy Vũ từ Campuchia về Hà Nội làm việc. Tôi cầm  lệnh  xuất tiền  của  anh  Hai đến  Cục Ngoại hối gặp anh  Doãn  - cục trưởng, hoặc anh Bảy Ích - cục phó. Nhận tiền xong, dùng  xe anh Hai Hùng chở tiền về phòng làm việc của tôi tại nhà  anh  Hai Hùng.  Ở đây, tiền được gói ghém  dưới dạng  hàng  mẫu  để giao cho anh  Thùy Vũ mang vào Phnom Penh  bằng  máy bay. Lúc đó Hà Nội đã có cơ quan đại diện  thương mại tại Phnom Penh  rồi.

Mỗi lần gởi tiền,  tôi phải  nghĩ  cách  nghi  trang  khác  nhau. Mấy triệu  đô la là một  khối lớn, không  thể xách tay mà phải  gởi theo  hàng,  cho nên  phải  nghi trang  khéo léo. Việc này tôi phải tự làm lấy. Trường hợp nào cần sử dụng  kỹ thuật thì người tham gia công việc phải được chọn cẩn thận và chỉ được biết một  phần nhỏ  công việc mà thôi.

Tiền đến  Phnom Penh,  anh  Thùy Vũ giao lại cho người của anh  Mười Thăng  Long. Và thường là một hai tuần sau đó, tôi nhận được điện từ Trung ương Cục miền  Nam xác nhận tiền đã nhận đủ.

Con đường  và phương thức  đưa tiền  từ Hà Nội đến  Phnom Penh  chỉ có anh  Hai Hùng, anh  Thùy Vũ và tôi biết rõ mà thôi. Công việc tiếp sau là do bộ phận của anh  Mười Thăng Long đảm  nhiệm, tôi không  biết nữa.  Với cách  làm ngăn  cách  và bí mật  như  thế nên  trải qua ba bốn  năm, công việc được thực hiện  trôi chảy, an toàn,  thành công trọn  vẹn”.

Theo Thăng Long (Đồng Đô La trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, NXB Trẻ, 1996)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: