trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Một chặng đường ở lại của tôi

Quê tôi lúc nhỏ ở xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh. Năm 1952, Pháp đem quân chiếm đóng tại Cần Lố, gia đình  tôi phải  tản  cư về quê  ngoại  ở xã Tịnh Thới. Chính  nơi đây, tôi bắt đầu  tham gia hoạt  động  thanh niên  ở xã. Quá trình hoạt  động  và rèn luyện  rồi được  đồng  chí Tư Đốc, bí thư  xã, bồi dưỡng  nên  tôi được  kết nạp  vào Đoàn  thanh niên của xã Tịnh Thới. Trong khi tập kết, cách mạng có mở các lớp học văn hóa tại trường  tiểu học Cao Lãnh, tôi cũng  được  tham gia học. Nhờ đó tôi hiểu  thêm về tinh  thần quật  khởi của  dân  tộc, về ý nghĩa  của  Cách  mạng tháng Tám,  chiến  thắng Điện  Biên Phủ  và Hiệp định  Genève... Các anh  bộ đội còn dạy những bài thơ, bài ca yêu nước mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ.

Hiệp định Genève được ký kết, quê hương Cao Lãnh là một trong ba nơi chuyển quân tập kết của bộ đội ta. Khi hay tin thành phần đi tập  kết có cả thiếu niên,  học sinh  nên  chúng tôi rất phấn khởi, ai cũng  chuẩn bị tinh  thần sẵn sàng để lên đường  ra Bắc. Nhưng  sau đó cấp trên  nhận định  tình  hình sau tập  kết sẽ có nhiều vấn đề quan trọng,  nhiều nhiệm vụ phải  làm nên  cần bố trí lực lượng ở lại hoạt  động  trong  tình  hình mới. Vậy là tôi cùng  với nhiều anh  em được chỉ định  ở lại quê hương. Tôi còn nhớ  lúc đó đồng  chí Tư Đốc nói với tôi rằng:  “Quê hương  cần  những anh  em  công  tác tốt  như  chúng tôi ở lại!”. Về phần gia đình  tôi, khi biết được tin nầy, người thân trong  nhà  nhứt là má tôi thay vì mừng  thì bà tỏ ra lo lắng. Cũng như  nhiều người dân  lúc bấy giờ, không  biết rồi đây khi bộ đội đi tập kết, bà con mình ở lại sẽ sống như  thế nào,  nhứt là một  khi địch  biết được những gia đình  có con  em đi kháng  chiến. Vì trong  gia đình,  ngoài  tôi còn  có anh  tôi là Phạm Văn Bửng và vợ anh,  tức chị dâu  tôi, cũng  tham gia cách  mạng (sau cả hai người đều  tập kết ra Bắc tại Cà Mau). Bản thân má tôi, thời kỳ chín năm, bà cũng tích cực tham gia hội mẹ chiến  sĩ, đi tuyên truyền vận động  chị em phụ  nữ và các gia đình  góp tiền,  gạo nuôi  cán  bộ, bộ đội. Khi bộ đội đóng  quân, các mẹ, các chị phân công may, vá quần áo cho chiến  sĩ mặc,  vận động  bà con  đem  thức  ăn đến  cho  bộ đội... Những  ngày nắng  nóng,  các chị, các mẹ còn tổ chức làm bún,  bắt cua đồng  nấu  canh để phục vụ cán bộ, chiến  sĩ. Nên khi hay tin tôi ở lại, mọi người không  biết nên  mừng  hay nên  lo, không  biết rồi đây tôi sẽ đi đứng,  đối phó với địch như  thế nào. Tôi phải  giải thích  rằng mọi việc đã có tổ chức sắp xếp cả rồi, đi hay ở cũng  đều là nhiệm vụ quan trọng,  mẹ tôi mới yên tâm  phần nào.

Sau tập kết, từ xã Tịnh Thới tôi được giới thiệu lên làm Phó Bí thư Chi đoàn của ba trường: bán công Lê Quý Đôn, công lập Kiến Phong và tư thục Thiên Hộ Dương (ba trường sinh hoạt riêng  nhưng dưới sự chỉ đạo  chung của  đồng  chí Nguyễn  Thế Hữu  (Tư Hữu),  Bí thư  Ban cán sự Đảng thị xã Cao Lãnh), anh  Năm Hải (Hồng Dỏn) là bí thư chi đoàn. Lúc nầy, hoạt động  của các cơ sở đảng  phải  bí mật  để bảo  toàn  lực lượng, chỉ có phong trào  đấu  tranh chính trị của  quần chúng và thanh niên,  học  sinh  của  chúng tôi là công  khai, hợp  pháp. Trong chúng tôi, nhiều anh  em cũng có ý kiến xin được hoạt  động  bất hợp pháp nhưng tổ chức không  đồng ý, chỉ khi nào bị lộ thì mới đi hoạt  động bất hợp pháp. Thời kỳ đó, những chuyển biến  về chính trị - xã hội của đất nước thường được thanh niên,  học sinh nắm  bắt rất nhanh, lại là con em nhiều tầng lớp đồng bào trong xã hội, nên những phản ứng của họ thường có tác dụng châm ngòi cho những phản ứng của toàn xã hội. Khởi xướng phong trào ở Cao Lãnh là sau ngày tập kết, học sinh đòi khai giảng trường, đòi địch trả bàn ghế lại đầy đủ cho học sinh học, phong trào này thắng lợi. Kế đến là ngày khai giảng, học sinh hát bài ca cách mạng, treo cờ xanh hòa bình  rồi kéo đi biểu tình  chống hành động  phá  Đài Chiến sĩ của địch.  Vì trong  thời gian đóng  quân tập kết, Tiểu đoàn 311 cùng  quân dân  chánh đã xây dựng  Đài Chiến  sĩ ở trung tâm  quận lỵ (ngã tư lầu Mười Chuyển) và mộ cụ Phó bảng Nguyễn  Sanh  Huy, thân sinh  Hồ Chủ tịch (ở ấp Hòa Hiệp, xã Hòa An). Khi bàn  giao quận lỵ Cao Lãnh  cho đối phương, phía  địch  cam  kết giữ nguyên vẹn nhưng sau đó chúng lén lút phá  hoại, thanh niên,  học sinh và nhân dân  biểu tình  phản đối, địch nhượng bộ ngưng phá  Đài, sau này địch cho lính lén lút phá  Đài vào ban  đêm.

Hoạt  động  thanh niên,  học  sinh  của  thị xã Cao Lãnh  sau  đó có bước  phát triển.  Điển hình là cuộc đấu tranh của anh  em học sinh trường  Lê Quý Đôn, chống giáo sư Thạch  dạy Pháp  văn, là mật  vụ đội lốt do Tỉnh trưởng  đưa vào để theo  dõi thanh niên,  học sinh hoạt động.  Cuộc đấu tranh nầy đã thu hút thêm các trường  công lập khác và có tiếng vang khắp miền  Nam  qua  các bài tường  thuật của giới báo  chí. Đáng  chú  ý là trong  cuộc  đấu  tranh nầy đã lôi cuốn được cả các giới giáo chức, nhân sĩ, con em và gia đình  các công chức ngụy (trong  đó có Trưởng  ty Cảnh  sát) đồng  tình  ủng hộ anh  em học sinh.  Sau vụ đó đồng  chí Năm Hải bị địch đuổi khỏi trường, tôi được chỉ định  làm Bí thư Chi đoàn phụ  trách  chung ba trường  gồm tiểu học Lê Quý Đôn, tư thục Thiên Hộ Dương và trường  Kiến Phong. Tháng 7 năm  1957, diễn  ra cuộc  biểu  tình  chống “Chỉ dụ cướp  đất  57”, với khẩu  hiệu  là “chống cướp  đất”,  “chống càn  quét”,  “hiệp  thương tổng  tuyển cử”, học  sinh  tham gia hỗ trợ và hưởng  ứng mạnh mẽ.

Gần Tết Nguyên  Đán  1958, cấp trên  chỉ đạo  làm sao trong  những ngày Tết mộ cụ Phó bảng  phải  được sơn mới lại cho tươm  tất. Chúng  tôi phân công mỗi người một  nhiệm vụ, gồm có anh  Sáu Đoàn,  anh  Huệ, anh  Hồ Văn Chư sơn phần thân mộ, tôi chịu trách  nhiệm sơn chữ đỏ, nền  vàng trên  bia mộ. Lúc nầy địch tăng cường bố phòng khá chặt  chẽ nhưng chúng tôi vẫn bí mật  đem  dụng  cụ tập  kết gần  đó trước,  đợi đến  giờ G thì bắt  đầu  làm. Trong  vòng một  giờ đồng  hồ, từ mười  hai giờ đêm  đến  một  giờ sáng  công việc phải  hoàn thành. Việc làm nầy không  chỉ được  bà con  nhân dân  đồng  tình  ủng  hộ mà còn  được  cả nhà  chùa  Hòa Long hưởng  ứng tích cực. Khi tôi bị bắt, nhiệm vụ nầy giao lại cho đồng  chí Bảy Bình sau là đồng  chí Hồng Nhân gánh  vác.

Lúc tôi bị bắt (tháng 10 năm  1959), không  phải  do phong trào thanh niên,  học sinh của chúng tôi bị lộ mà  trong  cơ sở của  ta ở Tịnh  Thới có người  bị địch  bắt,  chúng đánh đau không  chịu nổi nên  khai đại, nhớ ai khai đó vì người nầy cũng gần nhà  trong  xóm nên  biết tôi, khai ra tên tôi. Địch bắt tôi điều tra và giam một thời gian tại Cao Lãnh, chúng thấy tôi không  liên quan nên  thả ra. Sau khi tổ chức kiểm thảo,  tôi được bố trí điều chuyển lên Sài Gòn làm công tác dân  vận và binh  vận thành. Sau tình  hình có sự thay đổi, khi phong trào Đồng khởi nổi dậy ở Bến Tre, tỉnh  Kiến Phong rút tôi về hoạt  động.  Phân  công tôi làm Phó Ban Binh vận của thị xã Cao Lãnh, đồng  chí Tư Chiến  làm Trưởng ban.  Năm sau, tôi được rút về làm cán bộ binh vận tỉnh Kiến Phong, lúc nầy đồng chí Tám Bé là Bí thư, Trưởng ban Binh vận Tỉnh. Không lâu sau thì điều chuyển tôi về xã Nhị Mỹ (huyện Cao Lãnh) với nhiệm vụ đặc biệt  là liên hệ với một  người bạn  (tên  Tiểng) mà lúc nhỏ  khi còn ở Nhị Mỹ chúng tôi đi học chung, sau đó người nầy đi lính trong  lực lượng pháo binh  thuộc Tiểu khu Kiến Phong. Gia đình  của người nầy cũng  ở xã Nhị Mỹ nên  thông qua  gia đình,  dần  dần  tôi có được mối quan hệ khá gần gũi với Tiểng. Tôi dùng  mọi lý lẽ vận động,  thuyết phục để bên mình vào đặt mìn phá  hết đội pháo binh  của địch và đổ axit vào họng  súng  để không  bắn được. Tháng hai năm  1963, tôi bị bắt lần thứ hai khi địch bố vào căn cứ ở xã Nhị Mỹ. Cũng là lúc tôi mới vừa hay tin vợ mình đang  mang thai  đứa  con  đầu  lòng khoảng bốn  tháng. Trước đó một  năm  (năm 1962), chúng tôi lấy nhau. Vợ tôi cũng  hoạt  động  trong  hội phụ nữ xã Mỹ Ngãi, cùng chị em đấu tranh trực diện với ngụy quân ngụy quyền, chống đốt nhà, dồn dân, bắn giết người vô tội... Ngày tôi thoát ly, dù rất thương vợ nhưng cũng đành để vợ ở nhà  vừa làm ruộng nuôi  sống gia đình  thay chồng đi chiến  đấu  xa vừa chăm sóc ba mẹ chồng già yếu để tôi yên tâm  vào căn cứ hoạt  động.  Lần đó, chúng tuyên án tôi mười tám tháng tù giam. Những  ngày tôi bị giam giữ, vợ tôi bụng  mang dạ chửa lặn lội khắp  nơi tìm chồng để thăm nuôi.  Tình cảm và nghĩa  cử đó đã giúp tôi có thêm niềm  tin vượt qua tất cả những khó khăn,  gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ mà cách  mạng đã giao phó.

Sau khi ra tù, tôi về địa phương tiếp tục hoạt  động trong  bộ phận tôn giáo vận. Lúc nầy, chùa  chiền  bị chính quyền ngụy phong tỏa hoặc  bị đập phá.  Nhà sư cũng phải  đi lính, chỉ trừ những người thọ giới sa di mới được miễn.  Trong khi Hiến chương Phật  giáo quy định mỗi nhà  sư không  phải  đi lính, không  đi quân dịch.  Tôi nằm  trong  Uỷ ban  tranh đấu  lúc đó. Cuộc biểu tình  quy tụ rất đông  sư sãi và phật tử, đưa ra yêu sách tôn trọng  chùa  chiền, không được bắt sư sãi đi quân dịch, không được gò ép nông dân rời bỏ ruộng vườn, phương tiện sinh sống duy nhất của họ v.v... Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chủ trương phân tán, mỗi người đi một nơi do cán bộ lãnh  đạo trực tiếp bố trí và liên lạc đơn tuyến. Tôi về Mỹ Hiệp, hai năm  sau bị mật thám bắt vì lúc đấu tranh bảo vệ Hiến chương Phật  giáo, báo chí đăng lên đã có tên mình. Tôi dùng  lý lẽ vì lúc đó tôi là tín đồ Phật giáo thì đương  nhiên phải bảo vệ Hiến chương của Phật. Chúng  đuối lý nên bắt tôi đi quân dịch, tôi khai bệnh và tìm cách trốn  về. Tổ chức bố trí tôi qua bộ phận An ninh tỉnh,  hoạt  động  cho đến  ngày giải phóng.

Thế hệ trẻ chúng tôi ngày ấy là như  thế! Lớn lên khi đất  nước  bị chia  cắt bởi khói lửa chiến  tranh. Chúng  tôi, những thanh niên yêu nước, đã góp nhiệt huyết  của mình cho mục đích  duy  nhứt, đấu  tranh vì một  ngày  mai  hòa  bình  cho  quê  hương. Sống trong  những thời kỳ lịch sử khác  nhau của  đất  nước,  hành động  thể  hiện  lòng yêu nước  cũng  sẽ khác nhau. Song, thế hệ trẻ thời nào cũng  là lực lượng đầy nhiệt huyết. Chúng  tôi mong  thế hệ trẻ hôm  nay và mai sau nữa  hiểu  được  truyền thống đấu  tranh của các thế hệ cha anh  đi trước,  tiếp tục phát huy nội lực, làm cho quê  hương  Đồng Tháp,  đất nước  Việt Nam  ngày càng giàu đẹp hơn.

Phạm Văn Thuận (Thế Thưởng thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: