trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Người đồng hành

Lớn lên trên  quê  hương  có truyền thống cách  mạng, mẹ  tôi cũng  có đóng  góp cho kháng  chiến, hai lần bà bị địch bắt, chúng hỏi:

- Bà đã giúp đỡ cho Việt Minh  bao nhiêu tiền?

- Tôi đóng  góp cũng  ít thôi, 100 đồng!

- Nếu  bà đóng  góp 100 đồng  thì phải  nộp  lại cho  chính phủ  gấp 10 lần.  Và chúng đã đánh bà hai bạt tai.

Với tấm lòng của người dân,  như bao người dân vì cách mạng, gia đình  đã góp phần tác động  đến  nhận thức  của tôi từ rất sớm. Năm  1952, tôi làm y tá tại trạm  xá Quân  y 2 - Cai Lậy, Tiền Giang. Tại đây tôi đã quen biết Võ Thành Chính  hay còn gọi là Vũ Thành. Cuộc sống,  chiến  đấu,  từ tình  đồng  chí chuyển lên tình  cảm  lứa đôi. Năm  1954, khi Vũ Thành chuẩn bị đi tập kết, tôi đã lặn lội lên tận Mỹ An thăm anh  ấy và chia tay, nhưng không  tiễn anh xuống tàu vì phải giữ bí mật cho gia đình.  Theo nội dung Hiệp định  Genève, bộ đội tập kết chuyển quân ra Bắc, sau hai năm  sẽ trở về nên  chúng tôi đã hứa hôn  với nhau. Nhưng rồi hai năm  qua  đi, không  có hiệp  thương tổng  tuyển cử, thống nhất đất  nước.  Mỹ Diệm nhảy  vào tàn  sát dã man  đồng  bào  miền  Nam  vô tội. Chúng  tôi vẫn xa nhau. Người Nam kẻ Bắc, chờ đợi, trông  ngóng.

Khi Vũ Thành ra Bắc, tôi ở lại làm việc tại trường  Trung  học Nguyễn  Đình  Chiểu  - Mỹ Tho (Trường  thuộc chính quyền ngụy quản lý). Tham  gia phong trào  học sinh,  sinh  viên và làm thư  ký đánh máy,  hoạt  động  bí mật  trong  Hội học  sinh,  sinh  viên giải phóng của tỉnh  Mỹ Tho. Là cán bộ nằm  vùng nên  nhiệm vụ của tôi là cung cấp tài liệu, hoặc  theo  dõi xem trường  có hoạt  động  gì để báo cho tổ chức, trực tiếp là đồng  chí Chín Thảo, Thành uỷ viên thành phố Mỹ Tho. Đồng thời, nắm  tình hình hoạt  động của học sinh, sinh viên trong trường  như  học sinh biểu  tình  hay bị địch đàn  áp.

Trong thời gian làm việc tại trường, với sự năng  động,  tích cực tôi đã được tổ chức chú ý bồi dưỡng  để kết nạp  Đảng.  Một lần tổ chức  cho người đưa tôi vào vùng giải phóng để báo  cáo tình  hình hoạt  động.  Sau đó, tổ chức  đề nghị  kết nạp  Đảng.  Lúc này, được  đứng vào hàng  ngũ của Đảng  là một  vinh dự lớn và cũng  là nguyện vọng của hầu  hết các đồng chí ở lại hoạt  động,  điều  đó chứng  tỏ rằng  mình có năng  lực, được  tổ chức  tuyệt  đối tin cậy. Nhưng  tôi sợ mình đang  làm việc cho  ngụy,  giờ lại kết nạp  Đảng,  nếu  chẳng may bị lộ thì sẽ ảnh  hưởng  rất lớn đến tổ chức, đến anh  em. Tôi đắn  đo suy nghĩ, cuối cùng quyết định  xin cấp trên  cho “thời gian”, không  kết nạp  sớm. Tổ chức thấy hợp lý nên  chấp  nhận lời đề nghị của tôi.

Những năm tham gia kháng chiến chống Pháp (1951 - 1953), tôi công tác chung với đồng chí Chính  trị viên Quân  y là chú ruột  của Vũ Thành. Được chú và gia đình  thương yêu như con  cái trong  nhà.  Mấy năm  sau,  khi Vũ Thành đang  ở ngoài  Bắc, được  sự tác động  của chú,  gia đình  Vũ Thành đã đem  vàng, trầu  cau, bông  tai tới làm đám  hỏi và xin cưới vắng mặt  chú  rể. Đám  cưới không  có chú  rể, chỉ có người thân hai bên  gia đình,  nhưng không khí rất ấm cúng,  ai nấy đều  vui vẻ chúc  phúc cho cô dâu.  Chỉ có mẹ tôi đứng  ở góc khuất rơi những giọt nước mắt  xót xa vì thương con gái lẻ loi, đơn độc...

Thế rồi tám năm  sau, Vũ Thành trở về Nam thành lập Đoàn  Văn công Quân  Giải phóng. Chúng  tôi gặp lại nhau trong  hoàn cảnh khắc  nghiệt của  chiến  tranh. Gặp lại Vũ Thành tôi vô cùng xúc động,  mặc dù tin Vũ Thành, tin vào sự chung thuỷ của tình  yêu, nhưng tôi vẫn không  dám  chắc  chắn, vì điều  gì cũng  có thể  xảy ra. Gần mười  năm  sống  trên  miền Bắc, xa quê  hương, xa gia đình,  lại là chàng trai trẻ mới ngoài  đôi mươi,  cái tuổi  dễ dàng rung  động,  dễ dàng  xao xuyến. Sống trong  môi trường  nghệ  thuật với không  ít những cám dỗ, nếu  Vũ Thành có tình  cảm với người con gái nào khác cũng là điều dễ hiểu.  Nhưng  Vũ Thành vẫn hướng  về tôi, vẫn dành cho tôi những tình  cảm đặc biệt, đó là niềm  hạnh phúc lớn lao trong  cuộc đời. Tới năm  1964, tức là 10 năm  sau Vũ Thành rước tôi lên đơn vị anh. Trước ngày lên Tây Ninh,  tôi đã thu  xếp mọi  thứ  ổn thỏa.  Tôi dặn  má: “Ngày mai  con đi vô trỏng rồi, má vào báo cáo với trường là con đi Vũng Tàu chơi mà không  thấy nó về”. Má tôi trình bày và tỏ vẻ lo lắng lắm nên  chúng không  nghi ngờ gì. Còn tổ chức mình biết tin, sắp xếp để tôi đi. Khi lên Tây Ninh hoạt  động,  tổ chức mình ở Thành uỷ Mỹ Tho cũng tiếc vì cán bộ nằm  vùng khó kiếm người thay thế. Lên tới Tây Ninh, Vũ Thành báo cáo tổ chức để anh  em xác nhận làm lễ thành hôn  tại Xóm Giữa, một  vùng giải phóng của căn cứ. Lễ thành hôn  diễn  ra rất giản dị, chúng tôi được nhạc sỹ Xuân Hồng (lúc này là Trưởng Đoàn Văn công Quân  Giải phóng) đại diện  cho gia đình  hai bên tuyên bố với hai tán đường  thốt nốt và bốn  con khô mực, mời anh  em trong  cơ quan chung vui.

Cũng trong năm  này, tôi nhập ngũ vào bộ đội và được bố trí vào công tác tại xưởng Dược Quân  y, Cục Hậu cần, xưởng khoảng 40 đến 50 người cả nam  lẫn nữ. Tuy đơn vị tôi và đơn vị Vũ Thành cách  nhau không  xa lắm,  dù rất nhớ  thương nhưng thỉnh thoảng chúng tôi mới có dịp thăm nhau. Công tác ở xưởng Dược từ năm  1964 - 1965, tôi được  học dược tá và đến  năm  1967, tôi được tổ chức kết nạp  Đảng và cử đi học dược sĩ ở căn cứ Trảng Dầu. Một năm  sau,  học  xong, tôi về lại xưởng công  tác, tham gia bào  chế  thuốc cùng  anh  em trong  đơn vị để cung  cấp cho các chiến  trường, phục vụ cán bộ, chiến  sĩ.

Khi bào  chế  thuốc, chúng tôi phải  làm  thí nghiệm trước,  mọi  người  thay  phiên nhau thử thuốc pha chế, nếu an toàn  mới nhập kho, xong chuyển ra mặt trận.  Có những lần thử nghiệm, anh  em bị sốc thuốc phải  đi cấp cứu, nhưng may mắn  không  ảnh  hưởng  đến tính mạng.

Năm 1968, tôi xuống  đường  tham gia trận  Mậu Thân,  phụ  trách  cán bộ dược của bệnh viện dã chiến. Do chiến  tranh ác liệt nên  thương bệnh binh  nhiều, không  có nước biển, tôi phải  mua  đường  cát để thuỷ  phân truyền cứu bệnh nhân. Trong  lúc không  có nước  biển thì đường  cát truyền là an toàn  hơn cả. Năm 1969, tôi trở về Ban quân y của đoàn 220 Cục Hậu cần R.

Công tác ở Cục Hậu  cần  nên  không  về thăm gia đình  được,  má nhớ  quá  đã lặn lội vào chiến  khu thăm tôi. Biết tin, chúng tôi chuẩn bị xuống đón bà, nhưng giặc đang càn dữ dội và đánh phá  ác liệt tại Quốc  lộ 22 vùng Tà Băng, Trõm  Dừa. Trước tình  hình đó, anh  em trong  đơn  vị ngăn  cản  không  cho chúng tôi đi, vì đi sẽ rất nguy hiểm  đến  tính  mạng. Má tôi cũng nhắn, hai vợ chồng đừng đi đón, để bà vô. Má vô tới Tà Băng, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh thì bất ngờ gặp địch đang càn và chúng hốt luôn về Tây Ninh giam hai ngày. Chúng  hỏi:“Bà đi thăm con là Việt Minh  phải không?”. “Không tôi đi đám  giỗ bà con”. Thời gian ấy, may mắn  mà anh  em cản  và đặc biệt  má tôi không  cho xuống  rước, chớ nếu  hai vợ chồng xuống rước bà thì chắc chắn chúng tôi đã bị bắt và không  biết cuộc đời sẽ ra sao.

Trước ác liệt của  chiến  tranh, nhưng chúng tôi vẫn tranh thủ  gặp nhau trong  khoảnh khắc  ngắn  ngủi.  Và chính những khoảnh khắc  ngắn  ngủi  đó đã đem  đến  niềm  vui, hạnh phúc cho vợ chồng. Điều mà bấy lâu nay chúng tôi hằng  mong  mỏi, gia đình  hai bên  chờ đợi. Tôi có thai,  hai vợ chồng rất mừng  và chuẩn bị mọi thứ cần  thiết,  đồ em bé tôi tỉ mỉ may vá, tranh thủ  mua  sắm  để chờ đón  đứa con đầu  lòng sắp chào  đời - kết quả  của tình yêu bao  nhiêu năm  thuỷ  chung chờ  đợi. Nhưng  niềm  vui ấy không  được  bao  lâu, hạnh phúc không  trọn  vẹn! Trước tình  hình đánh phá  ác liệt của địch,  đơn  vị phải  chuyển căn cứ, bếp  Hoàng  Cầm đào để nấu  ăn bị sập. Trong  lúc vội thu  dọn  đồ đạc chạy ra ngoài  tôi bị va chạm mạnh... và chỉ có thể giữ được mạng sống của người sắp được làm mẹ!

Lần thứ hai không  giữ được thai,  rồi lần thứ ba, tôi đã lặng người đi, lòng đau  như  cắt. Lần thứ ba sẩy thai, do ở trong R không có điều kiện nghỉ ngơi, không có điều kiện giữ thai, có lúc thuốc cũng không có để cầm máu... Đây cũng là lần tôi biết mình mãi mãi không bao giờ có con được nữa.  Bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu niềm  tin và ước mơ về một  tương  lai, về một  mái nhà  mà ở đó có tiếng cười vui, nô đùa  của trẻ thơ bỗng  vụt tắt. Tôi như  không còn sức lực. Nhưng  đất nước đang  trong  cảnh chiến  tranh loạn lạc, miền  Nam  chưa  được giải phóng, tôi còn phải  vùng lên tiếp tục cùng  đồng  đội chiến  đấu,  quật  ngã kẻ thù.

Ngày 30 tháng 4 lịch sử năm  1975, trong  trang  phục Quân  giải phóng, tôi tham gia tiếp quản Sài Gòn và gặp lại Vũ Thành - người bạn  đời mà tôi rất mực yêu thương, trân  trọng.

Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nhưng không vì thế mà tất cả chúng tôi - những người phụ nữ thời chiến  được hưởng  niềm  vui, hạnh phúc trọn vẹn. Chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc thiêng liêng rất đỗi bình thường của người phụ nữ, hạnh phúc được làm mẹ! Tôi thầm nghĩ  và mong  muốn được  trải  qua  cảm  giác “vượt cạn”  như  bao  người  phụ  nữ trên  trái đất này. Nhưng  tôi đã không  có được cái may mắn  đó. Không có con cái, niềm  vui của tôi chỉ còn biết trông  cậy vào người bạn  đời mà tôi rất mực yêu thương. Tôi không  sanh  cho chồng được những đứa con bụ bẫm,  đó cũng là thiệt  thòi lớn mà anh  - người lính dạn  dày gió sương  phải  gánh  chịu.  Có những lần tủi thân, tôi đã khuyên anh  nên  đi tìm cho mình một  người  để gửi gắm  những đứa  con,  nhưng Vũ Thành nhất định  không  chịu  và vẫn ở bên cạnh tôi, an ủi tôi, chăm sóc tôi những khi trái gió trở trời... Với tôi như vậy là quá đủ!

Để an ủi mình, tôi nghĩ  không  có con âu cũng  là cái số, “trong  cái rủi có cái may”. Có lẽ tuy bất hạnh nhưng số tôi còn may mắn  hơn nhiều phụ  nữ Việt Nam trong  chiến  tranh. Vì nếu lỡ sinh ra những đứa trẻ “không  biết lớn” hoặc  bị tật nguyền thì đó sẽ là gánh  nặng rất lớn cho gia đình  và xã hội. Nhiều  đồng  chí, đồng  đội tôi, có biết bao người đã tham gia cuộc  kháng  chiến  chống Mỹ, cứu nước  của dân  tộc và rồi nhiễm chất  độc hóa  học trong mưa  bom  bão  đạn.  Cho tới bây giờ, nỗi ám  ảnh  của  khói lửa, đạn  bom,  của  chiến  tranh vẫn không  buông tha họ, khi họ đã sinh ra những đứa trẻ mà ở tuổi đời 40, 50 các em vẫn không  biết mình là ai. Nhìn cảnh cha mẹ lọng cọng phải  đút từng miếng  cơm, miếng  cháo cho những đứa con trong  sự ngây ngô, thất  thần, tôi cảm thấy vô cùng  xót xa...

Năm  tháng qua  đi, nhưng bài học  về tình  đồng  chí, nghĩa  đồng  bào,  về ý thức  trách nhiệm, tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ thì thời nào cũng cần và không  bao giờ cũ. Cuộc đời người lính trong  bao nhiêu năm  xa cách, trong  gian khổ, ác liệt của chiến  tranh, chúng tôi vẫn chờ đợi nhau, vẫn chung thuỷ cho đến  ngày hôm  nay - đó là một  niềm  hạnh phúc lớn lao. Niềm  hạnh phúc đó đã phần nào  bù đắp  được những mất  mát,  đau  thương mà  số phận đã an bài. Tận đáy lòng  mình, tôi vô cùng  biết  ơn Vũ Thành - người đồng  chí - người bạn  đồng  hành đã cùng  tôi đi suốt  cuộc đời!

Nguyễn Thị Lợi (Ngô Thị Thuỷ thể hiện)


Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: