trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Những người B trụ

 

Bà Lê Thị Huệ (phải)

 

Năm 1951 tỉnh Sa Đéc sát nhập với Long Châu Tiền thành tỉnh Long Châu Sa, tôi là Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh. Vào tháng 7 năm  1953 tôi về Mỹ Ngãi để chuẩn bị sanh  con, được Ban Chấp  hành phân công phụ  trách  Ban Chấp  hành phụ  nữ xã Mỹ Ngãi cho thuận tiện. Sau khi sanh  con đầu  lòng được tám  tháng, tôi tổ chức lớp bình  dân học vụ ở kênh Ông Kho - song song với kênh Nguyễn Văn Tiếp A, cho các em học sinh trong vùng giải phóng và con em ngoài vùng địch chiếm đóng  ở Mỹ Ngãi, Hòa An.

Tôi nhớ trong số học sinh theo  học thời kỳ này có bốn  em sau này trở thành cán bộ cách mạng, trong  đó có Phan  Khôi, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Lớp có ba giáo viên đứng  lớp là: Anh Gô, cô Lệ (dạy các lớp 1,2,3) và tôi dạy lớp cao hơn.  Đình  chiến, anh  Gô về Tiền Giang, cô Lệ về miền  Tây đi tập kết, chỉ còn một  mình tôi dạy tất cả các lớp này.

Gần tới ngày ký Hiệp định,  tin chiến  thắng dồn dập bay về. Tất thảy mọi người dân,  cán bộ, bộ đội đều vui mừng  khôn  xiết. Khi Hiệp định  Genève  chính thức được ký kết, tôi đang dạy học ở Mỹ Ngãi cũng xin nghỉ mười ngày, ẵm con ra Cao Lãnh mừng chiến thắng. Lúc ấy chồng tôi - ông Năm Hựu phụ  trách  thông tin văn hóa đang  tuyên truyền chiến  thắng của ta ngoài  quận lỵ Cao Lãnh, bởi ban  đầu  tỉnh  dự kiến ông đi tập kết nên  cho ra công khai.

Không khí trong  những ngày này không  thể tưởng tượng nổi. Trên bờ tấp nập  xe cộ - xe jeep của quân đội, xe đạp của dân, không có các loại xe máy như bây giờ, dưới sông là xuồng ghe - đa phần là xuồng bơi tay, ít xuồng máy của dân,  chủ yếu là thân nhân đi tiễn đưa bộ đội. Dân, bộ đội, cán bộ ở các nơi nườm nượp  kéo về Cao Lãnh rất đông,  vô ở ngay trong các nhà  dân.  Tình quân dân  thể hiện  rất rõ - gắn bó mật  thiết,  keo sơn và dân  rất thương bộ đội. Nhân dân  không  những nuôi  các anh  bộ đội mà  còn  nuôi  cả thân nhân của  họ, mặc  dù cuộc  sống bà con cũng  không  khá giả gì. Cứ mỗi buổi  chiều,  bộ đội tập trung các cháu  lại, dạy những bài hát rất vui nhộn như: Kết đoàn,  Mùa hoa nở... Không còn kẻ địch, không  còn  chiến  tranh và bom  đạn,  chết  chóc.  Dân  thì chỉ biết  hôm  qua  là chiến  tranh, nay đã hòa bình  nên  rất sung  sướng,  hồ hởi.

Đang  những ngày vui chiến  thắng ấy, do chưa  bị lộ, hai vợ chồng tôi được  lệnh  ở lại, không  đi tập  kết nữa.  Trong  khi anh  em lần lượt xuống  tàu  vui vẻ, tôi vội thu  dọn  đồ đạc trở về kênh  Ông Kho - căn cứ kháng  chiến  của ta lúc ấy, mà không  thể ra đưa tiễn anh  em được dù trong lòng rất muốn. Chấm dứt một trăm ngày tập kết, Pháp trở lại, bọn ngụy quân đóng  đồn  Cầu Xây và Thống  Linh, lớp học giải tán.  Dọc kênh  này hầu  như  nhà  nào  cũng nấu  rượu, nuôi  heo. Để có một  cái nghề  sinh sống, hoạt  động,  tôi cũng đắp  lò, học bà con nghề  nấu  rượu,  làm bánh bán.  Ở đây chúng tôi được  học tập  rất kỹ, muốn thuộc lòng về tình  hình và nhiệm vụ mới, về nội dung  của Hiệp định  Genève.  Có sự chuyển hướng  trong đấu  tranh cách  mạng, phù  hợp  với tình  hình mới - đấu  tranh chính trị. Lúc trước,  ta chủ yếu đấu tranh vũ trang  thì bây giờ chỉ được đấu tranh chính trị hòa bình. Chi bộ đả thông nhưng tư tưởng  anh  em rất căng.

Tuy dân  không  nghĩ nhưng ta khẳng  định:  Mỹ đã nhảy  vào nhất định  chúng sẽ lật lọng. Đường  lối của Đảng  chỉ thị chúng ta phải  nghiêm chỉnh thực  hiện  Hiệp  định,  không  cho địch có cái cớ để đàn áp, bắt bớ những cán bộ kháng  chiến. Đường lối của Đảng thì chúng tôi bắt buộc  phải thi hành nhưng trên thực tế, nhiều đảng viên, cán bộ ở lại rất băn khoăn, lo lắng: Địch ngoài  “sáng”,  ta ở trong  “tối”, nếu  ta chỉ đấu  tranh chính trị thôi  thì liệu có thắng nổi không? Tổ chức  Đảng  và Đoàn  thanh niên  vẫn còn nhưng lui vào hoạt  động  bí mật.  Các tổ chức Mặt trận,  đoàn thể buộc  phải  giải thể. Tỉnh chỉ giữ lại một  số bộ đội, tập trung dồn  về “ruột”  Đồng  Tháp  Mười của tỉnh.  Ban Chấp  hành phụ  nữ xã Mỹ Ngãi cũng giải thể, tôi phụ  trách  phụ  nữ xã (không  còn Ban Chấp  hành như  trước).

Dù không  còn hệ thống tổ chức từ tỉnh  xuống xã, tên không  còn nhưng người vẫn còn. Tôi vẫn tiếp  tục hướng  dẫn  cho hội viên phụ  nữ của xã học tập,  củng  cố tổ chức.  Những hội viên phụ  nữ sau này đã trở thành nòng  cốt cho phong trào  phụ  nữ ở địa phương. Để phù  hợp  với tình  hình lúc bấy giờ, chúng tôi hướng  dẫn  cho các chị em thành lập những tổ chức biến  tướng,  hợp pháp và bán  hợp pháp với nhiều tên gọi. Ở xã Mỹ Ngãi thành lập ba loại tổ phụ  nữ: Tổ thăm đau, nuôi đẻ; tổ vạn cấy (cấy vần công) và tổ nữ công gia chánh (tỉnh  Sa Đéc địch  tổ chức  Hội Phụ  nữ Việt Nam).  Các tổ chức  biến  tướng  vừa giúp  nhau chăm lo cuộc sống, vừa củng cố niềm tin của dân đối với Đảng và Bác Hồ. Khi cần thì hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống địch. Những  người chưa bị lộ thì ra hoạt  động  hợp pháp như  trường  hợp các chị Năm Mai, Bảy Sương đưa đi học cô đỡ tại bệnh viện Cao Lãnh để địch cấp chứng  chỉ cho hành nghề  sau khi tốt nghiệp, tạo vỏ bọc chắc  chắn để hoạt  động sau này. Ngoài ba tổ chức  phụ  nữ trên,  cán  bộ đảng  viên thực  hiện  nắm  quần chúng với phương châm bắt rễ, xâu chuỗi. Cứ một đảng viên nắm  ba quần chúng cảm tình, một quần chúng cảm  tình  nắm  ba quần chúng tốt.  Như  vậy, một  đảng  viên có thể  nắm  được  chín quần chúng tốt, hạn  chế đến  mức cao nhất hoạt  động  bị lộ.

Lúc này Tỉnh uỷ Sa Đéc thành lập Ban Phụ vận tỉnh,  phân công đồng  chí Võ Thị Việt - Trưởng ban, phụ trách  huyện Châu Thành, đồng chí Nguyễn  Thị Liên, phụ trách  Sa Đéc và tôi phụ trách  Cao Lãnh. Không còn Ban Chấp hành, hoạt  động của phụ nữ do Ban Phụ vận nắm, đặt dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ. Năm 1957 tôi về xã Hòa An hoạt  động  và học may ở tiệm Nhật Tân để tạo thế hợp pháp. Thời kỳ này địch đã bắt đầu khủng  bố cách mạng. Nổi bật  là vụ giết hại hơn  bốn  mươi  đảng  viên và quần chúng ở xã Bình Thành huyện Thanh Bình và bắt đồng  chí Mai Văn Khải, Bí thư Chi bộ xã Mỹ Ngãi tra tấn,  bỏ bao bố neo  sông Cái Sao Thượng  cho  đến  chết...  Người dân  hoang mang, lo sợ. Chúng  tôi vận động  nhân dân hãy tin vào Đảng, vào cách mạng, vận động bà con làm đơn, cử người đi Tân Châu gặp Uỷ hội Quốc tế tố cáo địch đã vi phạm Hiệp định.

Năm  1959 cơ sở của ta trong  đồn  địch  báo  ra, tôi đã bị lộ nên  tránh đi để khỏi bị địch bắt. Do vậy tôi phải  thoát ly luôn.  Tôi đi vô Tỉnh uỷ ở hậu Thường  Phước,  được Tỉnh uỷ cử tham gia lớp học sơ cấp chính trị của Liên Tỉnh uỷ mở. Thời gian học một  tháng. Lớp học có cái tên rất lạ: ÚT LỌP. Thơ từ ở các nơi gởi cho lớp chỉ cần ghi hai từ ÚT LỌP là thư tới tận  nơi. Lớp học  tổ chức  vào mùa  nước,  học  viên ngồi học  ở trên  xuồng  và có mười  học viên. Để đảm  bảo bí mật,  lớp được chia thành hai tổ, mỗi tổ năm  người. Tổ 1 do anh  Bảy Hạo  - dạy ở Trường  Đảng  tỉnh  làm  tổ trưởng. Tổ 2 do anh  Tám  Hưng  là giảng  viên,  lớp trưởng  kiêm tổ trưởng. Hai tổ cách  nhau bằng  một  tấm  vải che đảm  bảo  bí mật  cho mọi người, không  ai biết ai, bởi anh  chị em toàn  dân  hoạt  động  hợp pháp. Giáo viên giảng bài ngồi giữa tấm  vải che hai tổ. Lớp học rất nghiêm túc, học xong mỗi phần đều  có kiểm tra bài. Khi kiểm tra thì anh Tám Hưng lớp trưởng  lại lụi hụi nấu cơm cho cả lớp ăn luôn.  Một hôm đang học thì nghe súng đạn ầm ầm ở gần đó, sau mới biết là trận đánh Giồng Thị Đam và Gò Quản  Cung, khiến  tất cả các xuồng bỏ vải che tốc chạy tránh đạn.  Thật mắc cười, ai cũng thấy mặt nhau. Anh em sau đó gom lại cười xòa, đùa nhau: “Trời bất dung gian đảng”.

Sau khi kết thúc  khóa  học, chúng tôi về tỉnh  được  Tỉnh uỷ Kiến Phong chủ  trương  mở các lớp chính trị bồi dưỡng  cán bộ Đảng ở cơ sở và cán bộ các đoàn thể. Trường Đảng dạy đảng viên đặt tên là Tư Quyến. Còn trường  cho các cán bộ đoàn thể đặt tên Năm Luận. Hai tên: HUYẾN - LUẬN của hai trường  nói lái từ HUẤN LUYỆN. Không biết bộ máy điệp  báo của địch  có khi nào  nghe  tới sự tồn  tại của những cái tên  đặc biệt  này không,  có thể nào đoán ra được đó là trung tâm  huấn luyện chính trị nổi tiếng một thời của tỉnh  Kiến Phong hay không,  mà nhờ  nó chúng tôi đã huấn luyện  không  biết bao  nhiêu cán bộ, đảng  viên. Đúng  là sự “thiên biến  vạn hóa” của cách  mạng.

Vào ngày 20 tháng 12 năm  1960, Mặt trận  Dân  tộc Giải phóng miền  Nam  Việt Nam  ra đời, các tổ chức đoàn thể bắt đầu  được khôi phục lại. Nhưng  ở Đồng Tháp  (lúc ấy là Kiến Phong), trước đó một  năm, từ sau trận  đánh Giồng Thị Đam  - Gò Quản  Cung và sau ngày 25 tháng 12 năm  1959 chiếm đồn  Vinh Huê, giải phóng xã Thanh Mỹ, huyện Mỹ An, Tỉnh uỷ nhận định  sớm được tình  hình do vùng giải phóng được mở rộng, chủ trương  cho khôi phục lại các đoàn thể thanh niên,  phụ  nữ, nông  dân đã giải tán, cử ba người: tôi, anh Năm Thảnh và anh  Mười Ái ngồi viết điều  lệ cho các tổ chức  đoàn thể chuẩn bị hoạt  động  trở lại (tổ chức lâm thời).

Cuộc  chiến  đấu  của  những người  ở lại vô cùng  cam  go, ác liệt. Thế nhưng chúng tôi, dưới sự lãnh  đạo của Đảng đã vững vàng vượt qua bao khó khăn,  gian khổ. Hai mươi mốt năm  các anh  xuống tàu ra Bắc, mỗi năm  là mười hai tháng, mỗi tháng là ba mươi ngày và mỗi  ngày là hai mươi  bốn  giờ... Không  phải  từng  giờ, mà  là từng  phút, từng  giây, chúng tôi đã phải  gồng mình đối phó  với bao thủ  đoạn hèn  hạ của kẻ thù,  để tồn tại, để tiếp tục hoạt  động.  Trong  cuộc  chiến  đấu  không  cân sức này, có nhiều và rất nhiều chiến  sĩ cách mạng đã ngã xuống,  chưa  kịp nhìn thấy lá cờ đỏ tung  bay phần phật trong  ngày 30 tháng 4 năm  1975 bởi cái thời gian hai mươi  năm  nó dài quá.  Nói như  vậy mới thấy  cái giá của hòa bình  thật  không  nhỏ...

Và những người  ở lại, những người B trụ, chúng tôi luôn  tự hào  và kiêu hãnh đã hiến dâng  cả tuổi  thanh xuân,  vì lý tưởng  của cách  mạng, để hạnh phúc được  nở hoa  trên  đất nước này.

Lê Thị Huệ (Phạm Thị Toán thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: