trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Những tháng năm gian khổ

Tôi sanh  năm  1927, quê xã An Hữu, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Cha mẹ đặt tên là Phan Văn Chưởng, sau này đi kháng  chiến  tôi lấy tên là Phan  Văn Đấu cho đến  bây giờ.

Nhà  tôi nghèo lắm.  Cái nhà  lá nhỏ  cất trên  nền  đất  mướn của  địa chủ.  Ba tôi làm nghề  thợ cưa, thợ mộc cất nhà.  Má tôi sanh  tới mười một  người con, chết  khi còn nhỏ  hết sáu người,  do đói nghèo, bệnh hoạn. Phần  tôi, cha mẹ ráng  lo cho tôi học được  lớp Năm (tức lớp Một hiện nay) biết quọt  quẹt  viết và đọc chữ thì nghỉ. Lo cái ăn, cái mặc không  đủ, tôi làm gì được học cao hơn!

Cảnh  khổ của  gia đình  tôi khác  hẳn  cảnh sống  cao sang  của  những gia đình  địa chủ, quan làng.  Vì sao  có cảnh đó, tôi chưa  hiểu,  nhưng trong  lòng  cảm  thấy  có gì bất  công, mong  muốn sao cho nhà mình cùng nhiều bà con khác thoát nghèo, không còn bị hà hiếp.

Cái mốc trong  cuộc đời tôi là năm  1944, khi tôi được mười bảy tuổi. Mấy chú,  mấy anh lớn trong  xóm thường nói chuyện riêng  với tôi, rồi biểu  tôi canh gác, coi chừng  làng lính khi mấy chú, mấy anh  đó họp,  biểu tôi đi đưa thơ cho người khác. Dần dần  tôi được vô tổ chức, được tham gia giành  chính quyền ở xã trong  Cách mạng tháng Tám năm  1945. Liền sau đó, tôi được vào đội ngũ Tự vệ chiến  đấu  quân.

(...)

Tôi tham gia công tác tại xã, tới năm  1947 thì đầu  quân vô Quân  báo  tỉnh  Mỹ Tho, chi 133A. Ở đây, hiểu  biết  và hoạt  động  của  tôi tiến  bộ hơn  nhiều. Năm  sau,  trong  một  trận địch ruồng bố, chúng tôi đi xuồng qua Vĩnh Long. Chiều hôm  sau, khi trở về, xuồng chúng tôi bơi qua sông Tiền, vừa cập mé bờ xã Hòa Hưng (Cái Bè) thì bị lính Hòa Hảo hành quân ra đón  bắt.  Cả ba người đi trên  xuồng  gồm tôi, anh  Sáu và anh  Công, Trưởng  Công an xã đều bị bắt. Chúng  đánh tụi tôi quyết  liệt song chúng tôi không chịu khai báo gì. Chúng  giải chúng tôi về An Hữu, chỗ đại đội 37 Hòa Hảo của Nhâm chỉ huy. Ở đây, chúng tiếp tục tra khảo và giam chúng tôi cả mười ngày rồi giải xuống Cái Bè. Lại đánh, lại hỏi, chúng tôi vẫn một mực không  khai gì và chúng tôi bị giam ở đây sáu tháng. Có điều lạ là thỉnh thoảng có người gởi vô phòng giam cho chúng tôi mấy viên Trật đả hoàn để uống.  Sau đó, chúng cho tôi ra ngoài làm bồi phục vụ cho tên quan hai, người Pháp.  Lúc này, tôi mới biết, người gởi cho chúng tôi thuốc Trật đả hoàn là em vợ viên Thượng  sĩ đi lính cho Pháp  ở tại đây. Nhờ anh  này nói vô với viên Thượng  sĩ mà tôi được ra ngoài.  Biết anh  này là người tốt, tôi nhờ anh  cho tôi nhắn về với đơn vị và xin đơn vị cho tôi trốn  về. Có lẽ đơn vị muốn cài cắm tôi ở đây nên  khuyên tôi ở lại, đừng  về. Nửa tháng sau, tên  quan hai Pháp  cưới vợ. Vợ y thấy tôi là người đàng  hoàng nên  làm mai cưới vợ cho tôi. Tôi đâm  hoảng, nên  nói khéo: “Cho tôi về nhà  gặp cha mẹ tôi để báo tin”. Chúng  cho. Vậy là tôi được về. Gặp lại gia đình,  mọi người mừng  quá.  Ba má tôi mua  cái đầu  heo về cúng.  Hôm  sau, tôi từ giã gia đình  tìm về đơn vị cũ là Quân  báo tỉnh.

Ngày 18-8-1949  là ngày suốt  đời tôi không  quên, đó là ngày tôi được  chi bộ Quân  báo tỉnh  làm lễ kết nạp  tôi vào Đảng.  Mấy năm  sau, tôi được  đưa về Quân  báo  huyện Cái Bè. Rồi tôi được  đưa  về xã Mỹ Trung  làm Xã đội phó,  sau  là Trưởng  Công an xã cho  tới ngày đình  chiến, tháng 8 năm  1954.

Tôi được học tập  Hiệp định  Genève  và được giao phụ  trách  việc ra tiếp nhận Ngã Sáu, nơi bọn lính Bảo an đóng  giữ, giao lại vùng nầy cho ta quản lý, thuộc vùng quân đội ta tập kết để chuyển quân ra Bắc.

Lúc nào tránh né, hoạt  động gian khổ, giờ được sống trong  cảnh hòa bình,  tôi cũng như mọi người vui sướng  lắm. Tôi được cấp trên  phân công ở lại quê  nhà,  không  đi tập  kết ra Bắc. Việc đi hay ở thiệt  tình  tôi chẳng có lấn cấn  gì. Đảng  cần  gì ở đâu,  tôi ở đó. Hết thời hạn  tập kết, địch  ở lại, tôi trở về địa phương. Tổ chức phổ  biến  cho tôi coi ở đâu  được thì ở, khi nào  cần sẽ cho người liên lạc. Tôi về nhà  vợ ở xã Mỹ Tây. Vốn trong  hàng  ngũ địch nhiều người  biết  mặt  tôi, thấy  ở đây không  ổn, tôi nối gót theo  anh  Được là anh  em bạn cột chèo  với tôi, là đảng  viên, tôi qua  cồn  Hòa Ninh,  nuôi  vịt đàn  cho  người  ta, vừa lánh mặt,  vừa tạo việc làm có cơm ăn. Tôi và anh  Được cùng dự sanh  hoạt  Đảng với chi bộ Hòa Ninh.  Tình hình ở vùng cồn lúc nầy còn tạm  yên ổn, ban  đêm  tôi cùng  anh  em trong  xóm chơi đờn ca cổ nhạc giải khuây.

Thời gian ngắn  sau,  tôi trở về nhà  ông già vợ xin cây cất nhà.  Tôi và anh  Tư Long vốn ở Ty Công an về, bí mật  hoạt  động.  Chủ trương  của ta lúc nầy là vận động  nhân dân  đấu tranh chánh trị đòi địch thi hành Hiệp định  Genève, vì chúng đã công khai tuyên bố không thực hiện Hiệp định, không hiệp thương, tổng tuyển cử gì cả. Chúng tôi lén viết và in truyền đơn  bằng  đất  sét nhão cán  mặt  cho láng. In xong, chúng tôi vô bao,  ban  đêm  lên xe, vừa chạy vừa rải dài theo  đường.

Lúc nầy chúng đã thành lập chánh quyền ở xã, ấp xong và bắt tay rình rập, ruồng bố tìm bắt  cán  bộ ta. Tôi vì vậy phải  ăn ở bán  hợp  pháp, đi lại phải  hóa  trang  như  người  đi làm đồng,  tránh giáp mặt  địch.  Một đêm,  địch  bao  nhà  cố tình  bắt  anh  Được. Không  có anh Được, chúng bắt tôi nhưng bọn đi bắt lại không  biết tôi. Chúng  dẫn tôi lên gặp Trưởng ấp. Trưởng  ấp lại là người của ta cài vô, nên  anh  ta nói với bọn  đi bắt: “Mấy ông bắt lầm rồi. Người nầy không  phải  ông Được. Ông nầy là em rể ở An Hữu mới xuống  hồi chiều  thăm ông già vợ”. Địch mở trói, nhưng không  chịu thả, dẫn tôi về Cái Bè. Đêm nầy trời mưa tầm tã. Chúng  đội áo mưa, tôi cũng đội áo mưa, lầm lủi đi. Thấy đây là thời cơ trốn được, vì chỗ nầy tôi quá  thuộc đường  đi nước  bước,  nên  tôi vụt áo mưa,  vọt chạy...  Tôi quành trở lại nhà  kêu vợ tôi trốn.  Tôi rủ anh  Tư Long cùng  trốn  qua  Vĩnh Long, trú ở Cả Côn, Cả Cam. Qua đây, tôi ở nhờ  nhà  ông Sáu. Sáng hôm  sau,  địch  xuống  bắt  ông già vợ tôi giải về Cái Bè. Dọc đường,  ông nhảy  xuống  sông  tự vận nhưng chúng nhảy  theo  vớt ông lên. Chúng tra hỏi và giam ông mấy tháng sau mới thả.

Qua Cả Cam được ít hôm, tôi trở về An Hữu, ở nhà bà cô ruột thứ Năm, tạo thế hợp pháp để ăn ở và hoạt  động.  Tôi lại cất nhà ở đất bà cô Năm. Ban đêm,  tôi thức vẽ, viết khẩu hiệu đem  cắm ngoài  lộ. Địch đánh hơi bao nhà  bắt tôi, nhưng tôi vuột khỏi. Gần cả tháng trời, tôi ở ngoài  vườn, ngoài  đồng,  ban  ngày làm người  đi xom lươn,  che  mắt  địch.  Một hôm, Năm Kim tới tìm tôi nói tổ chức kêu tôi về Hòa Hưng cũng thuộc huyện Cái Bè. Mấy ngày sau,  tôi được  các anh  phân công  về làm  Phó  Bí thư  xã An Thái Đông.  Vùng nầy cơ sở ta mạnh. Tôi vẫn dùng  giấy tờ giả đi lại bán  hợp pháp.

Những  năm  nầy địch lùng sục, bắt bớ, đánh phá  cơ sở cách  mạng rất khốc liệt, nhứt là sau khi chúng ban  hành Luật 10/59  loại Cộng sản ra ngoài  vòng pháp luật. Lòng căm  thù trong  cán bộ và quần chúng sục sôi thấy không  thể cứ đấu tranh chánh trị hoài với chúng được.  Lúc đó, tôi được  đồng  chí Oanh  kêu tôi về để xây dựng  lực lượng võ trang.  Tôi vui mừng không sao tả xiết. Cứ năm nầy qua năm nọ cắn răng lẩn tránh địch lùng sục mà không chống lại được, nay được vô lực lượng võ trang cầm súng đánh lại địch thì còn gì sung sướng bằng. Tuy vậy, chúng tôi gom người hình thành một trung đội nhưng chưa có súng. Anh em cứ phải  di chuyển né địch,  qua  Hậu Mỹ, rồi Mỹ Tây, Mỹ Lợi, An Hữu, Thanh Hưng...  Tâm trạng  anh  em bứt rứt lắm vì bộ đội mà còn tay không,  chưa  có súng.  Địch thì ruồng bố ác liệt. Lúc nầy, chúng tôi được lịnh đưa lên tỉnh  Kiến Phong nhập với Tiểu đoàn 502. Được lịnh, anh  em vui mừng  vô kể. Nói đưa một  trung đội, nhưng thật  sự đi cả hai trung đội vì có mấy chục  thanh niên  đi theo.  Chúng  tôi lên Thanh Mỹ, ở trong  đồng,  nhập vào đại đội Chín Cứ thuộc Tiểu đoàn 502, được phân công hoạt  động  vùng huyện Mỹ An. Sung sướng nhứt là chúng tôi được trang  bị súng.  Anh em nôn  nao  vì Tiểu đoàn 502 vừa đánh diệt cả hai đại đội, thu  hằng  trăm  súng ở trận  Giồng Thị Đam  - Gò Quản  Cung.

Nghe đâu  tỉnh  Mỹ Tho xin chúng tôi trở về. Phần  lớn anh  em trở về. Phần  tôi, các anh vẫn giữ lại ở đơn  vị Chín  Cứ. Cuối năm  1959, đơn  vị được  lịnh  đánh đồn  Vinh Huê,  giải phóng xã Thanh Mỹ. Tôi là Chánh trị viên trung đội được trực tiếp tham gia trận đánh nầy.

Vậy là từ đó, tôi gắn bó với Tiểu đoàn 502, với Tỉnh đội Kiến Phong suốt  chặng đường đánh Mỹ bằng  cuộc  đời binh  nghiệp, cùng  chịu  bao  gian lao, nguy hiểm,  vui buồn trong chiến  đấu.  Một sự kiện đau  đớn  trong  cuộc  đời riêng  của  tôi là sáng  ngày mùng Hai Tết Mậu Thân  - 1968, vợ tôi chở các con từ Mỹ Đức Tây vô Ngã Sáu, Thanh Mỹ tìm thăm tôi. Tôi thì đã đi theo  Tiểu đoàn 502A hành quân lên tấn  công  thị xã Cao Lãnh.  Chiếc  xuồng máy đi dọc đường  bị chiếc máy bay trinh sát L.19 phóng một  trái rốc - kết, làm toàn bộ số người đi trên  xuồng,  gồm vợ tôi, bảy đứa con tôi, đứa cháu  và đứa con gái đều  chết  chìm hết. Sau đó, chỉ tìm được xác vợ tôi và một  đứa con!

Cuộc đời binh  nghiệp của tôi là quá trình dài. Đến năm  1989 tôi được nghỉ hưu, lúc đó là Đại tá, Phó Chỉ huy trưởng  về Chánh trị tỉnh  Đồng Tháp.  Chưa nghỉ một  ngày, tôi sang công tác tại Hội Cựu Chiến binh  tỉnh, làm Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch suốt cả chục năm  mới thật  sự về an dưỡng  ở gia đình.

Đại tá Phan Văn Đấu

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: