trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Ở lại, hoạt động trong lòng địch

 

Ông Bùi Quang Thạnh

Năm 1951, tôi cùng  các anh Năm Sắc, Tư Túc, Tám Bân là cán bộ của Huyện uỷ Cao Lãnh, được Huyện uỷ điều về công  tác ở xã Tân An. Nhằm bồi dưỡng  cán  bộ, năm 1952, tôi được đồng chí Nguyễn  An Tịnh, Bí thư  Huyện uỷ Cao Lãnh  cử đi học bổ túc văn hóa trường trung học Nguyễn Công Mỹ ở Cà Mau. Là đảng viên, tôi chấp hành và chuẩn bị lên đường,  dù biết  rằng  đang  thời chiến để đi đến được Cà Mau không hề đơn giản. Cùng đi học với tôi có anh Đức ở huyện Tân Hồng, anh Long, anh Quang ở Giao liên tỉnh. Từ Cao Lãnh, tôi và các anh đi lên Sở Thượng thì gặp một số anh ở tỉnh Tây Ninh tới cùng đi. Chúng tôi vượt sông Tiền, qua Tân Châu thì đường giao liên bị đứt, phải trở lại tìm đường khác để đi. Bàn tới bàn lui, chỉ còn con đường  đi công  khai. Phải  làm giấy lát-xê- pát-xê  (tức giấy thông hành) để khi đi đường địch có xét hỏi.

Tôi quen anh Tiếu người có đạo Hòa Hảo ở quê tôi nhưng là người tốt, anh làm nghề chở thuốc lá xếp bánh bằng ghe xuống Cà Mau bán,  chịu chở tôi cùng đi. Các anh kia thì tìm đường khác để đi. Dọc đường mấy lần cảnh sát gọi ghe lại xét hỏi. Và lần nào chúng cũng  mớm  lời để xin tiền,  đại thể: Mấy ông buôn bán có đồng lời, có ăn, còn tụi tôi... Dĩ nhiên, anh Tiếu phải chìa cho chúng chút  ít tiền để được đi êm xuôi.

Tới xã Trí Phải, tôi theo  giao liên xuống  Năm  Căn, trường  đóng  ở đó. Vào học, cứ ngày chủ nhật nghỉ thì tuần họp  chi bộ, tuần họp  cơ quan bình  xét thi đua,  kiểm điểm  việc học tập, tuần đi chở lúa về xay. Mỗi sáng tập thể dục bằng  giả gạo. Ngoài ra, phân công trong tiểu đội ai đi đốn củi (ở vùng U Minh Hạ), ai giăng câu, cắm câu... Học viên phân bổ ở nhờ trong  nhà  dân  và đều được các gia đình  giúp nấu  cơm sẵn, tan học là có cơm ăn.

Năm 1954, học và thi xong thì cũng là thời điểm  thi hành Hiệp định  đình  chiến  Genève. Chúng  tôi về tới Cần Thơ thì được lịnh của Trung ương giữ các đoàn học sinh lại. Giao liên chuyển chúng tôi về Long Châu  Hà. Đoàn  trình giấy với Tỉnh đội, được  Tỉnh đội sắp xếp vào đội ngũ đi tập kết của tỉnh  đi về Cà Mau. Bất ngờ tôi được gặp ông Huỳnh Văn Trí, sư thúc  Phật  giáo Hòa Hảo. Nghe tên ông từ lâu nay mới có dịp gặp mặt  ông. Đó là một  con người có vóc dáng  to, miệng  rộng. Chúng  tôi phải  trở lại Cà Mau. Tới vàm Lình Quỳnh thì gặp hàng  trăm  ghe biển  treo  cờ đỏ sao vàng mừng  hòa  bình, chúng tôi cũng  được  không khí tưng  bừng  đó cuốn hút,  vui lây. Chúng  tôi đi ngang  qua  Rạch Giá, qua  sông  Cái Lớn, tới Xẻo Rô và được cấp xuồng tới Cà Mau dự lễ Độc lập ngày 02 tháng 9 năm  1954, sau khi ta đã tiếp  quản Cà Mau. Quang  cảnh vô cùng  náo  nhiệt, hàng  ngàn  người dân  phấn khởi đón bộ đội ta ra tiếp quản, các đoàn thiếu nhi ca múa...  thật  là vui. Sau đó, chúng tôi được đưa về ngã tư Phó Sinh để học Hiệp định  Genève.  Học xong, mỗi người đều viết lý lịch và nêu  nguyện vọng mới của  mình. Thật  sự, qua  học  tập  chúng tôi thống nhứt thắng lợi to lớn của ta, thông suốt  việc phân công vùng tập kết ở Nam  Bộ để chuyển quân ra Bắc, hai năm  sau  tổng  tuyển cử thống nhứt Tổ quốc,  song  trong  lòng mỗi  chúng tôi vẫn còn  băn khoăn liệu qua  hai năm  đó, địch  có thi hành, có thống nhứt hay không? Về nguyện vọng, tôi muốn làm nông  nghiệp. Các anh khác thì người muốn làm chuyên môn  y tế, v.v... Cuối cùng,  chúng tôi được  lịnh ai từng  công  tác phong trào  thì ở lại miền  Nam,  không  tập  kết ra Bắc. Tôi nằm  trong  số ở lại.

Chúng tôi gặp chú Tám Thâu đi học lớp chánh trị Trường Chinh ở Cà Mau đang chuẩn bị về Cao Lãnh. Mừng quá, vậy là cùng nhập làm một đoàn và do chú Tám Thâu làm Trưởng đoàn. Theo việc thi hành Hiệp định  Genève, Pháp  phải lo phương tiện đưa đoàn chúng tôi đi. Hồi nào  ta với Pháp  là kẻ thù  gặp nhau là đánh, nay ta đường  hoàng được  Pháp  phục vụ, đưa đón, lòng tôi tự hào và sung sướng vô cùng. Chúng  tôi đi ghe máy từ Phó Sinh suốt một đêm tới Phụng Hiệp, chỗ Uỷ ban Liên hiệp Đình chiến của ta đóng, có treo lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới. Nhìn lá cờ bay trên đất ta làm chủ, nhân dân vui tươi trong không khí hòa  bình, lòng tôi vui khôn  tả. Ở đây, chúng tôi được  phát cho  mỗi người  một  bộ đồ bộ đội màu  xám và cả giày vớ bộ đội. Đoàn  chúng tôi được Pháp  đưa ba chiếc xe GMC chở đi. Cùng đoàn có một  đại úy Pháp  ngồi trên  xe Jeep đưa đi. Đồng chí Tám Thâu  và phiên dịch cùng  đi xe của đại úy Pháp.  Viên đại úy cẩn thận đi kiểm tra từng xe, xem khóa  chốt và dặn:  “Các anh  cho phủ  bạt xuống,  vì qua  các đồn  Hòa Hảo hay ném  đá”. Dân  hai bên đường  vẫy tay chào  chúng tôi. Lòng chúng tôi rất vui lẫn bồi hồi xúc động.  Tới Cần Thơ, đoàn xe trình giấy. Có mấy tên công an đeo kính đen dòm ngó. Xe qua bến bắc Cần Thơ về tới Sa Đéc, đậu lại chỗ Bun-ga-lô. Do không  có tàu, Pháp  lại dùng  xe đưa chúng tôi xuống kinh 12, ghé tại bót kinh 12. Pháp  lấy một  chiếc tàu phum đưa chúng tôi tới chỗ đóng  của Uỷ ban  Liên hiệp  Nam Bộ, cách đó vài cây số. Hồi nào đi phải  tránh Pháp,  nay được Pháp đưa xe, đưa tàu tới nơi, chúng tôi thấy tự hào và phấn khởi lắm.

Ở đây, chúng tôi được tin ta đã giao Gò Công lại cho Pháp  và chúng đã đàn áp nhân dân biểu  tình  mừng  hòa bình, kiếm chuyện gây hấn  với ta. Anh em đâm  lo, hiệp  định  mới thi hành mà nó phá  hoại như  vậy, hai năm  tới không  biết ra sao?

Sáng hôm  sau,  tàu  có cắm  cờ đỏ sao vàng đưa  chúng tôi về Mỹ Quý, nơi Uỷ ban  Liên hiệp  đóng.  Bà con hai bờ kinh vẫy chào  đón  mừng  chúng tôi. Các đồng  chí ở cơ quan Uỷ ban Liện hiệp tiếp chúng tôi. Sau khi hỏi thăm sức khỏe, việc đi đường  của chúng tôi, đồng chí vui vẻ nói: “Anh em đã về tới, xin gởi bộ đồ lính tại đây...” Chúng  tôi thay mặc quần áo bà ba đen  và được giao liên đưa tới An Bình. Từ đây, chúng tôi đi bộ về thị trấn  Cao Lãnh. Vùng nầy giờ do ta quản lý, nên  đi công  khai trên  đường,  gặp bà con  ai cũng  phấn khởi, vui mừng.

Tới Cao Lãnh đã phân nửa thời gian chúng ta tập kết chuyển quân. Tôi có dịp đi thăm anh  em, bà con ở Tân An, Hòa An, Tân Thuận Tây... nhưng không  về quê  nhà  được.  Nhà tôi ở cồn  Gòn, ấp Đông  Hòa, xã Tân Thuận Đông.  Hiện  tại hai cồn  Lân, cồn  Chài còn  bị Hòa Hảo chiếm đóng. Tôi vô rạch Dầu giữa gặp đồng chí Hai Liêm ở Ban Tổ chức Tỉnh uỷ. Đồng chí hỏi tôi: “Chú em mầy tính sao?”. Tôi nói: “Ông già tôi hoạt động năm  1930, bị bọn phản động  giết. Chúng  nó biết tôi. Tôi ở đây không  được. Anh cho tôi đổi vùng”. Đồng chí đồng  ý chuyển tôi về Tỉnh uỷ Châu  Đốc.

Tuy hai cồn Lân, cồn Chài còn bị địch  chiếm, nhưng hàng  ngày bà con, nam  nữ thanh niên  thừa  sơ hở của địch,  bơi xuồng  qua  Cao Lãnh  coi văn công,  chiếu  bóng,  triển  lãm... cùng  vui hưởng  không  khí hòa  bình, thăm bộ đội và người  thân. Nhờ có tập  kết mà  dân bên cồn qua đất liền, tiếp xúc bộ đội, cán bộ ta, tạo điều kiện thuận lợi cho ta gầy dựng cơ sở cách mạng sau nầy. Hôm chuyến tàu cuối cùng  đưa bộ đội ta rời bến bắc Cao Lãnh, tôi cũng có mặt ngậm ngùi tiễn đưa. Tàu chạy rồi, hồi lâu tôi mới về. Tôi đến ở nhờ nhà người quen tại kinh Sáu Mỹ. Sau đó, ôm gói đi vô rạch Bà Vại. Hai hôm  sau, tôi theo  giao liên lên Bãi Thưa  huyện Hồng  Ngự, nơi Tỉnh  uỷ Châu  Đốc đóng.  Ở đây tôi gặp Chín  Thông,  Hai Liêm. Một tháng sau, các anh  đưa tôi ra dạy học để tạo thế hợp pháp. Không lâu, gặp Sáu Quảng, anh  hỏi tôi: “Mầy đi đâu  lạc lên đây?”. Anh nói quả  quyết:  “Mầy phải  trở về Cao Lãnh mới phù  hợp chỗ hoạt  động”.  Năm 1956, tôi trở về Cao Lãnh, Huyện uỷ cử tôi về Tân Thuận Đông, ở nhờ nhà  cơ sở ở Cái Tắc. Hôm đám  giỗ ông già, tôi qua cồn. Mới sáng, bọn lính Quốc gia đi tảo thanh lực lượng Hòa Hảo (lúc nầy lực lượng Hòa Hảo ra bưng vào Đồng Tháp Mười chống Diệm và đã ra hàng Diệm) gặp hỏi giấy. Tôi đưa giấy ra. Chúng  tình nghi bắt tôi đưa xuống đuôi  cồn rồi giải qua Cao Lãnh. Một tuần sau, chúng dẫn  tôi ra cho Đại đội Phùng nhìn mặt.  Ông ta lắc đầu,  nên  sáng hôm  sau chúng thả tôi.

Trở về Tân Thuận Đông, tôi được phân công phụ  trách  chi bộ hợp pháp và đoàn Thanh niên Lao động. Lúc nầy đồng chí Tư Trí (Ba Vân) là Bí thư, chi uỷ có Bảy Cá Trê, anh Tường và một  đồng  chí hợp pháp là Hai Ngộ. Thực hiện  chỉ đạo của trên,  nhiệm vụ của chi bộ là tuyên truyền, vận động nhân dân viết kiến nghị gởi chánh quyền Sài Gòn đòi hiệp thương, tổng  tuyển cử, đòi Uỷ ban  Giám sát đình  chiến  đóng  ở Tân Châu  xét xử vụ bọn  lính thảm sát bà con ta ở Bình Thành (Thanh Bình). Nhân dân  làm bè chuối trên  gắn khẩu  hiệu  thả trên  sông lớn và kinh rạch.  Trên đất liền, nhân dân  viết khẩu  hiệu  dán  theo  đường.  Nhân dịp địch thành lập Hội đồng  xã, chúng tôi cố gắng đưa người của ta vô, như  đưa anh  Hiếu làm cải cách điền địa và các thanh niên như Ẩn, Dũng, Đủ, Mây, v.v... vào lập được một tiểu đội Dân  vệ xã, đồng  thời khi địch  bắt quân dịch,  ta đưa một  số thanh niên  vào. Hai cuộc địch  tổ chức  trưng  cầu dân  ý để gạt bỏ Bảo Đại, đưa Ngô Đình  Diệm  lên làm Tổng thống và sau đó bầu cử Quốc hội, chi bộ lãnh đạo nhân dân  tẩy chay không  đi bỏ thăm, một mặt đồng  chí Bảy Nhàn, Huyện uỷ viên phụ  trách  xã, đưa  xuống  con  dấu  trưng  cầu  dân  ý và bầu  cử Quốc hội để các đồng  chí và cơ sở đóng  vào giấy căn cước, phòng khi địch tra xét.

Khi lực lượng  Hòa Hảo  Năm  Lửa chạy  vào Đồng  Tháp  Mười, họ đề nghị  ta ủng  hộ họ thành lập lực lượng  võ trang  ở xã. Xã Tân Thuận Đông  đồng  chí Bảy Cá Trê cùng  với số Hòa Hảo lập lực lượng du kích xã của ta mệnh danh là “Thôn vệ đội”. Nhờ có lực lượng nầy cũng  cản trở gây khó khăn  cho cuộc bầu  cử Quốc hội Diệm ở các xã.

Để tranh thủ  lực lượng Hòa Hảo, Huyện uỷ rút đồng  chí Ba Vân (Tư Trí) ở Tân Thuận Đông và đồng  chí Hai Toản ở Tân Thuận Tây về trên  làm công tác Hòa Hảo vận.

Năm 1957, Mỹ, Diệm càng ngày càng phát xít đàn  áp phong trào cách  mạng, thanh lọc nội bộ. Vào tháng 7 năm  1957, trên  chỉ đạo  cho  lực lượng  dân  vệ Tân Thuận Đông  khởi nghĩa  để bảo tồn lực lượng và thối động  phong trào  đấu  tranh của quần chúng. Đồng chí Bảy Cá Trê về kết hợp với địa phương và cơ sở ta trong  dân  vệ khởi nghĩa.  Ta nổ súng  diệt tên  Sơn cảnh sát ác ôn và tên  Nhượng tài chánh xã. Riêng ông Gủng là đại diện  xã là chú ruột của một cơ sở ta trong dân vệ, ông nầy không khó dễ với dân, anh em bắn vào đùi ông bị thương có cớ cho  ông khỏi bị tù. Diệt địch  xong, anh  em gom cả súng  và phương tiện quân sự xuống  xuồng,  do đồng  chí Tư Sính là cơ sở của ta đưa  vào vùng  căn  cứ an toàn. Sau đó, anh  Sính  vào lực lượng  võ trang,  được  giao nhiệm vụ bảo  vệ đồng  chí Trần  Anh Điền, Bí thư Tỉnh uỷ.

Mùa nước năm  1957, anh Tường được đi điều lắng ở Sài Gòn, tôi được cử làm Bí thư chi bộ xã Tân Thuận Đông. Tuy ở bất hợp pháp, tôi thường về cồn Lân, cồn Gòn gây dựng cơ sở. Một bữa trưa, tháng 3 năm  1958, tại nhà chị Ba Đô, tôi và Thanh Hải bí thư chi đoàn thanh niên  đem  tài liệu và họa báo từ miền  Bắc gửi vô xem. Tôi vừa bước ra sau hè thì đụng  lính đi ruồng. Chúng  bắt,  hỏi giấy. Tôi nói giấy tôi để trong  nhà,  để vô lấy rồi bỏ chạy. Chúng la ó rượt theo.  Nhờ vậy, Thanh Hải kịp chạy thoát và chị Ba Đô nhanh trí lấy chiếc  chiếu dính  cứt của đứa con phủ  lên mấy tờ họa  báo,  nên  chúng vô nhà,  khám  xét sơ sài rồi dạt ra. Chúng  rượt theo  tôi. Tôi chạy cỡ 300 thước  thì chạy hết nổi nên  bị chúng bắt. Một tên nói: “May cho mầy, cây tôm-xông của tao kẹt đạn,  không  thì mầy chết rồi”. Chúng  giải tôi về Cao Lãnh, đánh, tra hỏi về Đảng.  Tôi trả lời đại ý: Ông già tôi bị bọn  phản động  đội lốt Hòa Hảo giết, tôi sợ, bỏ đi, rồi đi ghe mua  bán  làm ăn. Chúng  hỏi ghe số mấy. Tôi tạo lý trả lời. Chúng  giam tôi chung với Bảy No và các anh  ở huyện Thanh Bình như  Lợi, Kíp và anh  An là cơ sở ta từ miền  Bắc cài vào dân  di cư vào Nam  đi tìm bắt liên lạc, bị địch  nghi bắt. Nhớ một hôm  bọn chiến  tranh tâm lý tới tuyên truyền nói miền  Bắc bị đói chỉ ăn cám. Xong chúng hỏi anh em có ý kiến gì, Ba Phó chịu không nổi nói: “Thầy nói vậy tôi nghe vậy. Tôi nghĩ có gạo mới có cám...”.  Chúng  “á khẩu”  và căm ghét Ba Phó.

Anh Lợi cùng bị bắt giam vốn lanh lợi gặp vợ Bảy Thanh hạ sĩ hậu cần coi kho xăng - vốn người tu hiền  - nhờ  Bảy Thanh nói với địch  nới tay cho tôi và Lợi ra ngoài  làm tạp  vụ, tối mới đưa vô giam. Lợi dụng  cơ hội đó, tôi gặp gia đình  tới thăm, nhờ báo cáo và xin ý Huyện uỷ Cao Lãnh. Các đồng  chí chỉ đạo: Trốn được thì trốn.  Tôi và Lợi liên lạc với cơ sở, được anh  Bảy Cá Trê tổ chức cho tôi trốn.  Hôm đó, hai chúng tôi đi bộ lên ngang  vàm rạch Xép Lá, có xuồng đưa qua sông Cao Lãnh. Hai chúng tôi đi bộ vô rạch  Ông Đá. Đến tối, chị Út Khéo cơ sở của ta cho đoàn viên Thanh niên Lao động đưa chúng tôi về kinh Sáu Mỹ, ở trong nhà  cơ sở. Thấy mất  tôi, đêm  đó địch cho lịnh bao nhà  vợ tôi ở kinh Sáu Mỹ. Tôi qua  cồn gặp đồng chí Bảy Nhàn, Huyện uỷ viên phụ trách xã Tân Thuận Đông kiểm thảo việc bị bắt.

Cũng trong năm  1958, tôi đang sinh hoạt công tác với anh Chín Phó tại nhà anh, bất ngờ bọn  lính biệt kích của tên Tho từ ngoài  đồng  ập vào, gặp tôi chúng hỏi giấy. Tôi trả lời tôi buôn bán  thuốc hút.  Chúng  bắt tôi đi một  đoạn đường.  Có tên  lính bắt tôi xòe tay ra cho chúng coi. Một lát sau, có một  tên  lính, tôi nghĩ  có lẽ là cơ sở của ta, anh  ta nói: “Ông đi đi”. Tối lại, chúng trở lại bao nhà  Sáu Lung tìm bắt lại tôi.

Trước tình hình địch ráo riết lùng sục, đánh phá cơ sở, đồng chí Bảy Nhàn cho tôi đi điều lắng ở vườn cao su Xuân Lộc tạm  một  thời gian. Cuối năm  1959, tôi trở về xã Tân Thuận Đông tiếp tục hoạt  động  bí mật  và được Tỉnh uỷ Kiến Phong rút về công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ.

Lúc nầy, phong trào  cách  mạng tỉnh  nhà  đã bước  sang  giai đoạn nổi dậy và tấn  công, phá  ách kềm kẹp của địch, mở vùng giải phóng ở nông  thôn.

Bùi Quang Thạnh

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: