trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

HỒI KÝ 100 NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN TẠI CAO LÃNH

Cỡ chữ : A- A A+
Sống trong lòng dân

Năm 1954, khi đình  chiến  tôi ở Ban Kinh tài Long Châu  Sa, đóng  tại rạch Á Đôn, sông Sở Hạ (thuộc xã Bình Thạnh, thị xã Hồng Ngự ngày nay). Lúc này, đồng  chí Nguyễn Văn Phối là Chủ tịch Uỷ ban  kháng  chiến  Hành chánh tỉnh  kiêm Trưởng  Ban Kinh tài. Tôi là thư ký Văn phòng phụ  trách  tổ Văn thư khi mới 22 tuổi.

Thi hành Hiệp định  Genève,  đất nước  tạm  thời bị chia cắt. Đảng  chủ  trương  một  số đi tập  kết xây dựng  lực lượng, một  số đồng  chí bị lộ cho đi điều  lắng (chuyển vùng),  số còn lại rút vào hoạt  động  bí mật.  Khi chuẩn bị cho tập kết, Đảng đã nói rõ ra là đi vinh quang, còn ở lại là anh  dũng,  sẵn  sàng  chấp  nhận gian khổ, hy sinh.  Được giáo dục  ngay từ đầu nên  tổ chức  lựa chọn kỹ những đồng  chí có điều  kiện, tư tưởng  vững vàng được  ở lại. Do đó, ngoài  cán  bộ lãnh  đạo,  người  có quyết  định  ở lại cảm  thấy  vô cùng  danh dự vì được tin cậy. Tại các cơ quan, đa số thanh niên  nhận quyết  định  đi tập kết. Cơ quan tôi có bốn thanh niên,  trong  đó ba người  đi tập  kết, tôi có quyết  định  ở lại hoạt  động  bí mật.  Nhận được quyết  định  ở lại tôi cảm thấy vô cùng  hãnh diện  và tự hứa với lòng mình phải  quyết tâm  bám  trụ và sát cánh cùng  anh  em, bà con thật  tốt.

Chuyến tàu  cuối  cùng  rời khỏi bến  bắc Cao Lãnh,  đồng  nghĩa  với việc lực lượng quân đội ta đã chuyển đi hết,  các toán  địch  từ bên  bờ sông  Tiền trở về như  Hòa Hảo,  Cao Đài và bọn  phản động.

Tháng  9 năm  1954, Tỉnh uỷ Long Châu  Sa giải thể, hình thành ba Tỉnh uỷ bí mật: Long Xuyên, Châu  Đốc và Sa Đéc. Tôi được điều  về Văn phòng Tỉnh uỷ Sa Đéc. Tỉnh uỷ Sa Đéc bí mật  có 7 đồng  chí: Nguyễn  Văn Phối,  Bí thư  Tỉnh  uỷ; Nguyễn  Việt Châu,  Thường  trực (em Thượng  tướng Trần Văn Trà), Mai Xuân Quảng, Uỷ viên Thường  vụ Tỉnh uỷ (phụ  trách công tác Đảng); Lê Thái Hiệp (Bảy Hiệp) Tỉnh uỷ viên phụ  trách  khối vận, đi sâu vào công tác thanh niên;  Năm  Y là trưởng  Ty Công an Mỹ Tho điều  lên, phụ  trách  binh  vận; Năm Thuyền (Ba Tôn) Bí thư thị xã Sa Đéc; đồng  chí Gấm TUV Bí thư Huyện uỷ Châu  Thành.

Sau khi thành lập các Tỉnh uỷ, sắp xếp tổ chức  cán  bộ tương  đối ổn định,  Trung  ương cho  mỗi  tỉnh  100.000 tiền  Đông  Dương  ngân  hàng  loại giấy con  đầm  đỏ để làm vốn (giá trị tương  đương  100.000 giạ lúa). Tôi vinh dự là người được giao giữ tiền,  đây là một  trách nhiệm nặng  nề, vì trong  hoàn cảnh lúc bấy giờ để tiền bạc trong  người rất nguy hiểm.  Để đảm  bảo an toàn,  tôi phải  nhờ  người hàn  10 hộp  vuông  với diện  tích bằng  tờ giấy bạc, để vào mỗi hộp  10 ngàn  rồi đem  chôn  trong  ngọn  Đập Đá tại một  nền  gò đất, có một  cây da to, dưới gốc cây da có một  cái miểu  nhỏ,  thuộc xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh.

Một thời gian sau, tình hình tạm lắng xuống và ổn định,  Tỉnh uỷ chỉ đạo tôi móc tiền lên để hoạt động, xây dựng cơ sở. Đầu tiên là xây dựng một cửa hàng bán thuốc tây do đồng chí Đa, y tá phụ  trách. Chúng  tôi mua  một máy ảnh  giao cho đồng chí Út Cượng (Tám Ánh) đi chụp ảnh  dạo để khi cần đến chụp cho anh  em làm giấy căn cước giả do anh  em không  ra ngoài  chụp được vì ở bí mật.  Ngoài ra, anh  em còn tranh thủ  hùn  vốn với dân  để nuôi  vịt tàu và xây dựng nhà  máy xay xát lúa ở Thống  Linh. Điều đó giúp cơ sở có thêm nguồn thu nhập, duy trì các hoạt  động.  Lúc này, tôi công tác ở Văn phòng làm nhiệm vụ Văn phòng.

Đầu năm 1955, Tỉnh uỷ có chủ trương đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Genève, chỉ định chúng tôi móc máy in lên, in tài liệu tuyên truyền. Tài liệu in xong, được đưa lên huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành để phân phối cho các địa phương rải tuyên truyền. Lúc bấy giờ, tôi phụ  trách  bơi xuồng đưa về Cao Lãnh (tại rạch Chanh xã Mỹ Trà ngày nay) chuyển cho đồng  chí Chín Cao, Bí thư huyện Cao Lãnh lúc bấy giờ để đồng  chí giao cho các xã.

Khi hình thành Tỉnh uỷ Sa Đéc, bộ máy Tỉnh uỷ gồm Văn phòng Tỉnh uỷ, trong đó có các thành viên phụ  trách  và kiêm nhiệm các lĩnh vực như  xây dựng  căn  cứ, Binh vận, Tuyên huấn, bộ phận giao liên công  khai, mỗi bộ phận chỉ vài đồng  chí. Các đồng  chí xây dựng cơ sở, khi có động  dời đi, mỗi chỗ chỉ ở vài tháng. Khi xây dựng  căn cứ, phải  điều  tra dân tốt mới chọn. Cán bộ ở xã này, xã kia có khi không  biết nhau, phải  giữ chặt  chẽ, lôi thôi bị bắt khai ráo hết.  Khi có người bị bắt,  bộ phận xây dựng  căn cứ biết,  báo  động  để anh  em chuyển ngay đi các địa phương khác.

Việc ăn ở, đóng  cơ quan thì hoàn toàn  trong  nhà  dân  một cách bí mật.  Chỉ bộ phận xây dựng căn cứ biết. Còn bộ phận cán bộ, nhân viên trong  cơ quan Tỉnh uỷ không  ai biết chỗ ở của ai. Các bộ phận họp  qua  điểm  trung gian trong  nhà  dân  để đảm  bảo an toàn.  Đó là nguyên tắc. Thời gian này, tôi ở trong nhà dân tại các cồn Bình Thạnh, Mỹ Hiệp, Tân Khánh Đông, Tân Dương (thuộc xã Tân Dương ngày nay).

Trong kháng  chiến, chiến  trường  đồng bằng sông Cửu Long khác các vùng miền  khác là không có nhiều rừng già, hang núi để xây dựng căn cứ, nên các cơ quan từ Trung ương đến  địa phương đều ở trong  dân.  Có lúc tình  hình găng, anh  em phải  tuyệt  đối ở trong  buồng, tối mới tắm giặt, quần áo thì phơi trong nhà, không phơi ngoài trời sợ dân xung quanh thấy đồ lạ. Trong nhà  dân,  để đảm  bảo an toàn  phải  làm vách đôi (ngang khoảng 5, 6 tấc) dùng để ẩn người khi có động  hoặc  khi địch đến.  Thường  anh  em ở nhà  này, nhà  kế bên  không biết  có người  đang  ở hoạt  động.  Do nuôi  giấu cán  bộ nên  cũng  có khi dân  bị bắt,  nhưng họ kiên quyết  không  khai. Dân  chấp  nhận chứa  mình là chấp  nhận sự hy sinh,  có thể  bị tù đày, tra tấn,  thậm chí tan nhà  nát cửa... nhưng họ vẫn một  lòng vì cách  mạng. Điều đó cũng dễ hiểu vì dưới thời Pháp  thuộc, dân  nghèo khổ, bị áp bức bóc lột, khi giải phóng họ được chia ruộng đất nên  dân  hiểu  chỉ có cách  mạng họ mới được sống,  được hạnh phúc. Chính  vì vậy, dân  đã hết lòng bảo  vệ cán bộ, bộ đội, lòng dân  đối với cách  mạng thật  lớn lao, nếu họ không tin tưởng, không bảo vệ thì có lẽ chúng tôi - những người ở lại hoạt động sẽ không  thể tồn tại được.

Lúc này, bộ phận giao liên công khai ở hợp pháp, thơ viết bằng bạch  chỉ, nhìn bằng mắt thường không thấy được, người nhận có chất hóa học pha trong nước thoa cho nổi chữ lên để đọc. Đọc xong là đốt.  Hồi đó, các báo  cáo huyện lên tỉnh,  tỉnh  lên trên  viết toàn  bằng bạch  chỉ. Chúng  tôi thơ từ, liên lạc bằng  nhiều cách,  nhiều hình thức  khác nhau tùy tình hình thực tế. Khi giới thiệu cán bộ đi công tác xuống huyện, xã mình viết bên trong bao gói thuốc lá dán lại mang đi, tới nơi người ta dùng  thuốc bôi lên giấy chữ sẽ nổi lên. Hoặc mua cuốn Vần (tập  đọc lớp 1), về viết lên khoảng trống  (do cuốn Vần có nhiều những khoảng trống)  nếu  lỡ bị địch phát hiện,  mình nói đi mua  sách  về cho con cháu  học, nghe  rất hợp lý. Tuy nhiên, địch  có phát hiện,  nghi  ngờ, chúng đem  đi hơ lửa, nhúng nước  và làm đủ mọi cách nhưng cũng không  thấy được gì. Ngoài ra, để dễ dàng  đối phó với địch trong  mọi tình  huống, chúng tôi bơi xuồng có đóng  bửng  đôi để đựng  tài liệu, ngay ở chỗ ngồi có để sẵn cục đất sét, gói tài liệu lại bao trong  cục đất, khi gặp địch xét mình lấy chân gạt xuống sông thì chúng không  thể nào biết được.

Tháng 5 năm  1955, tôi được điều về Liên Tỉnh uỷ miền  Trung Nam Bộ, với nhiệm vụ thư ký Văn phòng, vừa là người bảo vệ đồng  chí Bí thư Liên Tỉnh uỷ (Nguyễn  Minh Đường hay còn gọi là Sáu Đường, anh Hai lẻ sáu). Tháng 10 năm 1956, tôi được lệnh của đồng chí Bí thư Liên Tỉnh uỷ giao trực tiếp xuống quán cơm ở bến  phà  Mỹ Thuận để đưa đồng  chí cán bộ của Xứ uỷ lên biên  giới Campuchia và mời một số đồng  chí uỷ viên Liên Tỉnh uỷ về căn cứ họp, đó là đồng chí Nguyễn  Văn Phối, Thường  vụ Liên Tỉnh uỷ miền  Trung Nam Bộ, Bí thư Tỉnh uỷ Sa Đéc cùng  đồng  chí Đặng Tâm Quảng  (sau này là chính trị viên Tiểu đoàn hai).

Kiến Phong đang trong mùa nước nổi nên cả cánh đồng bạt ngàn trắng xóa. Chúng tôi đi xuồng từ Đồng Tháp Mười qua kênh  Nguyễn  Văn Tiếp (đoạn Đường Thét ngày nay), đụng nguyên cả tiểu  đoàn địch  đang  hành quân. Chúng  bắn  quá  dữ dội, tôi đề nghị  đồng  chí Quảng  sang xuồng  đồng  chí Phối để bơi cho nhanh (vì đồng  chí Phối đi xuồng  một  mình, còn tôi và đồng chí Quảng  đi chung một xuồng). Do có chuẩn bị trước, phòng khi gặp địch nên trên xuồng của tôi có trang bị lưới, câu như dân đang đi giăng câu... Lúc này, dân giăng câu trên  đồng  cũng khá đông,  tôi nhập vào cùng  bà con la lớn: “Dân giăng câu, dân  giăng câu”, cho địch biết là dân  đang  giăng câu để chúng ngưng  bắn.  Thừa cơ, đồng  chí Phối và đồng  chí Quảng  bơi thoát trở về căn  cứ, sang  ngày hôm  sau  tình  hình ổn mới trở về căn cứ an toàn.  Còn tôi thì bị bắt cùng  với một  số người dân.  Chúng  nghi tôi là lực lượng Hòa Hảo hoặc  Việt Minh  nên  chúng hỏi “súng  đâu?”, xét xuồng  không  thấy gì ngoài  lưới, câu, cá nên  hợp pháp. Tuy vậy, tôi vẫn bị chúng dùng  cây dầm  đập  nhiều chỗ, riêng tay bị gãy sưng phù lên không nhúc nhích được. Rồi chúng đưa tôi về giam tại Khám đường Cao Lãnh. Bị tra tấn đến  gãy tay, nhưng chúng vẫn không  moi được gì ở tôi và không  có cớ buộc  tội.

Ở trong  khám,  tôi tỉ Mỹ quan sát hành động  của địch  và số anh  em mình. Hàng  ngày, tới bữa  ăn, địch  đếm  một  lần khoảng 50 người  ra nhà  ăn. Vào một  buổi  chiều,  tôi không nhớ  rõ ngày nào,  nhưng lúc này là tháng 10 năm  1956, đang  là mùa  nước  nổi. Tại nhà  ăn chúng có giam lỏng khoảng trên  20 người dân  bị tình  nghi. Bọn phòng nhì sai thư ký qua nhà  ăn lập danh sách  để thả  số người này. Lúc thư ký qua  lập danh sách  để thả,  tôi thấy nó không  có danh sách sẵn nên  khi người thứ nhất khai, người thứ hai khai, người thứ ba khai...  lợi dụng  sơ hở tôi quyết  định  chen vào khai người  thứ  tư! Nếu lúc đó, địch  có sẵn danh sách  thì có lẽ tôi đã không  ra được,  đằng  này nó hỏi tên,  năm  sanh, quê,  tôi khai rõ nhưng không  khai thật.  Được thả,  tôi kêu xe lôi chạy  xuống  xóm Bún - xóm chuyên làm bún  (thuộc phường 3, thành phố  Cao Lãnh ngày nay), ghé nhà  cơ sở của ta. Nhưng  trong người  không  có tiền,  tôi tính  chạy  vào mượn tiền  để trả,  biết  hoàn cảnh vừa bị bắt  nên được chú xe lôi cho luôn  không  lấy tiền.  Cơ sở đưa tôi đi gặp má Mười, má Hai (mẹ chiến sỹ) thuộc xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh. Về đây các má đi kiếm thầy thuốc Nam lại sửa, kéo ra cho xương trùng khớp, băng  bó xong, má Hai, má Mười bơi xuồng đưa tôi về căn cứ. Về căn  cứ mới biết,  hai đồng  chí cùng  đi đinh  ninh tôi ở tù lâu, nhưng chỉ 9 ngày sau tôi đã tìm cách  trốn  thoát.

Năm 1960, sau Đồng khởi, Khu hình thành hai Ban Đảng là Ban Tổ chức và Ban Tuyên huấn. Tôi ở Ban Tổ chức,  sát cánh cùng  anh  em và bà con cho đến  ngày miền  Nam  hoàn toàn  giải phóng.

Lý Văn Thọ (Diễm Quyên thể hiện)

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: