trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Công tác bảo vệ môi trường

Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (viết tắt là BVMT) của tỉnh đã có một số tiến bộ nhất định. Cấp ủy, chính quyền các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội đã quan tâm hơn và ngày càng ý thức rõ hơn tính nguy hại của việc ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Từ đó, xây dựng được một số chế độ, chính sách hỗ trợ thực hiện công tác BVMT. Ý thức về BVMT đang dần trở thành thói quen, nếp sống của một bộ phận nhân dân, đã hạn chế một phần mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, môi trường ở Đồng Tháp vẫn tiếp tục bị xuống cấp, môi trường ở một số thị xã, thị trấn, làng nghề và cụm, tuyến dân cư vẫn còn bị ô nhiễm nặng; khối lượng chất thải ngày càng gia tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức; điều kiện vệ sinh môi trường (viết tắt là VSMT), cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm; tỷ lệ hộ dân được dùng nước sạch trong tỉnh còn thấp.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến yếu kém, khuyết điểm trong công tác BVMT, nhưng chủ yếu là do đa số nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc BVMT; thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ để phát huy ý thức trách nhiệm của cộng đồng; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn yếu kém, bất cập và nguồn lực đầu tư cho BVMT còn thấp. Những yếu kém và khuyết điểm trên thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:

  1. Thực trạng ô nhiễm môi trường tỉnh Đồng Tháp

      Hiện trạng môi trường đô thị:

Cũng như nhiều nơi khác, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Trong những năm qua mặc dù tích cực đầu tư, làm cho bộ mặt đô thị chuyển biến nhưng chủ yếu về diện. Do hệ thống giao thông đô thị chưa hoàn chỉnh, các xe chở đất, đá, cát, vật liệu xây dựng…phục vụ cho các công trình hoạt động thường xuyên nên ô nhiễm bụi hiện là vấn đề bức xúc. Kết quả quan trắc không khí đô thị cho thấy ô nhiễm bụi là hàng đầu,đang có chiều hướng gia tăng, nồng độ bụi quan trắc từ 0,5-0,6 mg/m3-vượt gấp đôi tiêu chuẩn cho phép. Trong thời gian tới ô nhiễm không khí sẽ không giảm nếu không có các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.

            Mặt khác do kết cấu hạ tầng không đồng bộ nên việc thoát nước không tốt. Có thể nói rằng tất cả các thị xã, thị trấn trong tỉnh đều có tình trạng ngập úng nhiều nơi, nhất là vào mùa mưa lũ do không có hệ thống cống thoát nước đồng bộ và hoàn chỉnh.

       Hiện trạng môi trường nông nghiệp - nông thôn:

Nhìn chung chất lượng không khí ở nông thôn vẫn tốt, ngoại trừ chung quanh các cơ sở TTCN có chỉ tiêu ồn và bụi thường vượt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, môi trường nước hiện đang là vấn đề bức xúc.

Chu kỳ ngập lũ hàng năm đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện vệ sinh của người dân. Nước lũ đã hoà tan chất bẩn trong các ao tù, rửa trôi, cuốn theo nhiều vi trùng kể cả tàn dư hóa chất bảo vệ thực vật trên đồng ruộng. Mặt khác, việc chăn thả vịt đàn tự do của người dân cùng với các cầu tiêu ao cá, cầu tiêu trên sông rạch cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước mà nghiêm trọng nhất là vi sinh và cặn lơ lửng. Cùng với tập quán quần cư ven sông rạch, một lượng rác thải không nhỏ, xác súc vật chết, phân gia súc, gia cầm  cũng được ném vào sông rạch; nước thải công nghiệp không được xử lý đã góp phần làm cho nước mặt bị ô nhiễm, nhất là vào mùa lũ  hàm lượng BOD có khi lên đến 80 mg/l (gấp 10 lần so với mùa khô).

Ở vùng sâu trong nội đồng có sự hiện diện của dư lượng phân bón trong nước. Kết quả phân tích một số mẫu nước có hàm lượng nitrat lên đến 25 mg/l.

Trong những năm qua nuôi thủy sản ở các cồn, bãi ven sông Tiền, sông Hậu phát triển mạnh mẽ. Ngoài việc nâng cao hiệu quả kinh tế, còn làm gia tăng ô nhiễm nước mặt do nước thải từ các ao cá không được xử lý. Nước thải từ các ao nuôi thủy sản có chứa nhiều chất hữu cơ do thức ăn thừa, do bài tiết của cá đồng thời còn có thể chứa các chất kháng sinh, chất tăng trọng có khả năng gây ung thư, gây các bệnh tim mạch chưa thể kiểm soát. Tình trạng khiếu kiện ô nhiễm môi trường do nuôi thủy sản có chiều hướng gia tăng, báo hiệu tiềm ẩn bất ổn cho ngành này: mâu thuẫn trong cư dân, thoái hóa giống …

       Hiện trạng môi trường khu công nghiệp(KCN):

Hiện trong tỉnh có 3 KCN của tỉnh ở TX cao Lãnh, TX Sa Đéc và huyện Lai Vung. Hầu hết các huyện-thị đều đang quy hoạch triển khai cụm công nghiệp.

Trong những năm gần đây nhiều nhà máy, xí nghiệp đã được xây dựng đồng thời với sự gia tăng ô nhiễm ở nơi này. Cụ thể là:

- Ô nhiễm bụi và mùi ở các nhà máy chế biến thức ăn dùng cho chăn nuôi ở KCN Sa Đéc.

- Mặc dù các nhà máy đông lạnh đều có hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành thường xuyên. Ô nhiễm do nước thải của các nhà máy đông lạnh, nước thải của các KCN thải ra môi trường mà không xử lý triệt để.

Hậu quả là nhân dân trong vùng khiếu kiện và cho đến nay chưa được giải quyết triệt để.

       Hiện trạng môi trường các làng nghề:

Đồng Tháp có nhiều làng nghề như dệt chiếu, trồng hoa kiểng, đan lờ lọp…nhưng số làng nghề gây ô nhiễm môi trường trong tỉnh hiện nay có 2 nhóm:

- Nhóm gây ô nhiễm không khí: điển hình là khu vực sản xuất gạch ngói thuộc xã An Hiệp, huyện Châu Thành. Tại đây có khoảng 48 cơ sở với gần 180 lò nung gạch theo  công nghệ truyền thống. Kết quả đo đạc nồng độ bụi lên đến 0,5 mg/m3; nồng độ HF: 0,3 mg/m3 (vượt tiêu chuẩn cho phép 10 lần).

- Nhóm gây ô nhiễm nước thải: gồm các làng nghề sản xuất bột lọc kết hợp chăn nuôi heo. Điển hình là khu vực xã Tân Bình, Tân Phú Trung (Châu Thành) Tân phú Đông, Tân Quy Tây (Sa Đéc). Nhất là khu vực Tân Phú Đông, lúc cao điểm có thể lên đến gần 40.000 đầu heo. Các làng nghề này. ngoài ô nhiễm nước, còn gây ô nhiễm mùi hôi thúi do chất hữu cơ bị phân hủy.

       . Chất thải rắn:

Rác thải sinh hoạt của người dân hiện là vấn đề bức xúc. Hiện nay lượng rác thu gom hàng ngày của mỗi thị xã khá lớn: 25 tấn/ngày, các thị trấn:2-4 tấn/ngày. Rác được thu gom rồi đưa ra bãi thải mà không hề có biện pháp xử lý. Ở các chợ nông thôn cũng tương tự: một số thải tạm ven đường hoặc nơi gần đó, một số thải xuống sông.

Tuy nhiên các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, lượng chất thải ít, không phải là những chất nguy hiểm hoặc quá độc nên việc thu gom và thải chung với chất thải sinh hoạt chưa gây nên những vấn đề lớn. Riêng rác thải y tế ở các Bệnh viện tỉnh, các Trung tâm Y tế được xử lý trong các lò đốt rác y tế, số còn lại thì giải quyết trong các lò tự chế.

Việc quản lý rác vẫn còn tồn tại một số điểm như sau:

- Mùa khô thì đốt, mùa mưa để tự nhiên.Mùi hôi, côn trùng rất nhiều, gây khó chịu cho cư dân gần bãi rác.

- Trang thiết bị, phương  tiện vận chuyển thiếu và lạc hậu: xuồng, ghe, xe ba gác, xe thô sơ…

- Một số huyện chưa quy hoạch xong bãi rác.

      Thiên tai và sự cố môi trường:

Trong những  năm qua, các sự cố môi trường chính có thể ghi nhận:

- Cháy cơ sở công nghiệp, cháy tàu xăng dầu.

- Giông và gió lốc thường gây ra hư hại nhà cửa, tài sản nhân dân.

- Sét đánh là hiện tượng phổ biến diễn ra hàng năm nhất là lúc đầu và cuối mùa mưa. Trung bình mỗi năm có từ 4-5 vụ gây chết người cho nên phải lưu ý và đề phòng.

- Sạt lở bờ sông: Do vị trí địa lý, các dạng thiên tai như bão, hạn hán hầu như ít ảnh hưởng đến tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên do nền đất yếu, cùng với hoạt động của sông, nên sạt lở bờ luôn diễn ra. Thông thường sạt lở chỉ xảy ra ở bờ lõm của đoạn sông cong và bồi lắng ở bờ lồi. Ở đoạn sông thẳng, bồi lắng hoặc sạt lở không đáng kể.

Căn cứ vào qui mô sạt lỡ hàng năm có thể phân ra làm 2 loại:

- Loại 1:  Các khu vực bị sạt lở nhỏ hơn 20m/năm. Đáng kể nhất là các khu vực thuộc các xã Thường Phước 2, Long Khánh B, Thường Lạc (Hồng Ngự), Bình Thạnh, Mỹ Xương (Cao Lãnh), Mỹ An Hưng (Lấp vò), Phường 4 – Sa Đéc...

- Loại 2: Các khu vực bị sạt lỡ lớn hơn 20m/năm,gồm:  Cù Lao Ma (Hồng Ngự), đầu cồn xã Tân Thuận Đông (Cao Lãnh), An Hiệp (Châu Thành)…

   2. Hướng công tác bảo vệ môi trường của tỉnh trong thời gian tới     

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, ngành, các tổ chức, doanh nghiệp, các chủ cơ  sở sản xuất, cá nhân và cộng đồng về BVMT.

            - Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và BVMT nhằm mục tiêu phát triển bền vững.

            - Tăng cường công tác quản lý môi trường, xử lý ô nhiễm, phòng chống sự cố môi trường ở các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, các làng nghề, khu giết mổ gia súc - gia cầm, các cụm, tuyến dân cư tập trung.

            - Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.       

- Xây dựng Qui hoạch, Chiến lược BVMT tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020: Từng ngành, huyện, thị tiến hành xây dựng qui hoạch BVMT của ngành và địa phương mình, bảo đảm đến năm 2007 hoàn thành.

- Xử lý dứt điểm ô nhiễm môi trường ở những điểm nóng trong tỉnh, cơ bản di dời những cơ sở, loại hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường ở các huyện, thị vào khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp trong khu công nghiệp của tỉnh phải đầu tư và đưa vào vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường.

- Tăng tỷ lệ số dân được dùng nước sạch. Các huyện, thị xã, thành phố có bãi rác và hệ thống thu gom, xử lý rác thải cho khu dân cư tập trung, khu đô thị, bệnh viện và cơ sở y tế.

            - Phục hồi môi trường ở các khu vực khai thác cát, chống sạt lở bờ sông.

            - Qui hoạch các vùng nuôi thủy sản hợp lý kết hợp BVMT.

            - Đáp ứng các yêu cầu về môi trường hội nhập kinh tế quốc tế: 100% doanh nghiệp có sản phẩm hàng hóa xuất khẩu áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO.

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: