trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Thổ nhưỡng

Theo nhận xét của PTS Lê Văn Tự (1984) trong Chương trình 60 – 02 thì đất đai ở Đồng Tháp có thể chia làm bốn nhóm lớn.

   1.  Nhóm đất xám:

Diện tích tự nhiên: 26.727,8 ha, tập trung ở Tân Hồng, Tam Nông và một ít ở Hồng Ngự. Phần lớn vùng này không ngập hoặc ngập ít vào mùa lũ. Cao độ khoảng 2,5-3,5 mét, vi địa hình bị phân cắt mạnh mẽ cho nên vừa bị bào mòn rửa trôi mãnh liệt ở các vùng cao, vừa tích tụ vật phẩm ở các vùng thấp. Do quá trình canh tác của người dân nên đất này đã bị phân hoá làm bốn loại chính :

* Đất xám bạc màu:

Có diện tích 856,8 ha, chiếm 0,25% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bố ở các gò cao ở Tân Hồng và Tam Nông. Độ cao bình quân khoảng 3,5 mét cho nên vùng này bị bào mòn và rửa trôi mạnh mẽ, hầu như không bị ngập vào mùa lũ. Do đó đất này có thành phần sa cấu nhẹ, cát màu xám chiếm ưu thế. Hàm lượng dưỡng chất thấp, không có khả năng giữ nước, đất rời rạc cho nên ngoài việc thiếu nước vào mùa khô cây trồng còn thiếu chất dinh dưỡng.

* Đất xám điển hình:

Có diện tích lớn nhất trong nhóm đất xám: 12.966 ha, phân bố dọc sông Sở Hạ và rải rác ở Tam Nông. Do địa hình khá cao nên bị ngập nông vào mùa lũ, ít bị tác động bào mòn, rửa trôi, chúng còn được tích tụ một phần các vật phẩm do lũ lụt đem đến. Tầng canh tác mỏng, thịt trung bình đến nặng, lượng dưỡng chất từ trung bình đến nghèo. Do bị rửa trôi nên phản ứng chua, giữ nước khá.

* Đất xám đọng mùn:

Có diện tích 9.904,4 ha, chiếm 2,88% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bố ở địa hình khá thấp của huyện Tân Hồng, từ rạch Cái Cái xuống xã Tân Công Chí, Nông trường Quyết Thắng. Hàng năm đều bị ngập khá sâu vào mùa lũ nên ngoài việc tích tụ các vật liệu từ gò cao đưa xuống còn tích tụ các vật phẩm từ nước lũ mang đến.Vật liệu chủ yếu là sét, sét bột chứa rất nhiều chất hữu cơ màu xám đen hoặc đen, đất có tầng mặt chứa nhiều chất hữu cơ khá dầy, đôi khi hơn 40 cm. Do đó dưỡng chất trong tầng này rất khá, có phản ứng chua nên cần chú ý đến chế độ bón phân.

* Đất xám nhiễm phèn:

Có diện tích 3000 ha chiếm tỷ lệ 0,87% diện tích tự nhiên của tỉnh. Phân bố ở các vùng trũng thấp ven rìa phù sa cổ nơi tiếp giáp với bưng phèn thuộc các huyện Tân Hồng, Tam Nông. Chúng được thành tạo do quá trình tích tụ các vật liệu rửa trôi từ trên cao xuống, do nước lũ mang đến đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của phèn từ các bưng trũng. Vật liệu chủ yếu là sét, sét bột màu xám chứa nhiều chất hữu cơ bán phân giải.

   2. Nhóm đất giồng:

Có diện tích không nhiều, khoảng 243 ha chiếm tỷ lệ 0,07% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng chỉ hiện diện ở Động Cát (Cao Lãnh) và Gò Tháp (Tháp Mười). Vật liệu chủ yếu là cát hạt mịn, nghèo về dưỡng chất. Muốn tăng năng suất cây trồng phải bón nhiều phân hữu cơ (bón sâu, vùi kỹ), nhiều phân lần mới có kết quả vì đất không giữ được.

   3. Nhóm đất phù sa:

Nhóm đất phù sa có diện tích lớn nhất: 152.219,6 ha, chiếm 46,72% diện tích tự nhiên. Đây là vùng đất đai trù phú dân cư đông đúc nhất trong tỉnh với những khu vườn cây ăn trái, những cánh đồng lúa, màu đạt hiệu quả cao. Do điều kiện thành tạo và tập quán canh tác, nhóm đất này chia làm 6 loại:

* Đất phù sa bãi bồi:     

Đất phù sa bãi bồi có diện tích tự nhiên khoảng 52,476 ha, chiếm 15,25% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bố dọc hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu, các cồn và dọc theo các sông, rạch lớn. Phần lớn đất này là đất thổ cư với vườn tược và cây ăn trái. Do được bồi đắp hàng năm nên đất đai rất màu mỡ, thích hợp cho rất nhiều loại cây trồng.

* Đất phù sa loang lổ đỏ vàng:

Có diện tích 26,680 ha chiếm tỷ lệ 7,75% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phát triển trên trầm tích sông- đầm lầy, phân bố ngay sau phù sa bãi bồi. Căn cứ vào mức độ gley hóa của đất mà chia ra làm hai loại: ở  nơi địa hình cao, mức độ loang lổ nặng tạo nên đất phù sa loang lổ, đỏ vàng; nơi địa hình thấp, mức độ loang lổ yếu hơn bị gley hóa tạo nên đất phù sa loang lổ đỏ vàng, gley. Thành phần vật liệu chủ yếu là sét; khá giàu kali nhưng rất nghèo đạm và lân.

* Đất phù sa đốm rỉ:

Đất phù sa đốm rỉ có diện tích 28,034 ha chiếm tỷ lệ 8,15% diện tích của tỉnh. Chúng phát triển trên trầm tích sông - biển, phân bố ở Cao Lãnh, Lấp Vò, Thanh Bình. Căn cứ vào mức độ gley hóa, đất này được chia làm 2 loại: đất phù sa đốm rỉ ở nơi có địa hình cao và đất phù sa đốm rỉ, gley với diện tích lớn hơn, phân bố ở các vùng tương đối thấp, gley mạnh. Vật liệu chủ yếu là sét, ít bột; đạm và kali khá, lân trung bình.

* Đất phù sa trên nền phèn:

Có diện tích 14.233,2 ha chiếm tỷ lệ 4,14% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bổ giữa vùng đất phù sa và vùng đất phèn, chủ yếu ở Châu Thành, Tứ Thường (Hồng Ngự). Chúng được thành tạo do quá trình bồi đắp của chất phù sa lên nền đất phèn nhưng chiều dầy của lớp phù sa không lớn (< 100 cm). Vì là đất phù sa nên chúng có tính chất của phù sa: kali khá, lân nghèo, đạm trung bình. Vì tầng sinh phèn nông nên khi khai thác vùng này cần chú ý. Nhất là đào ao nuôi cá hoặc lên liếp làm vườn thì vùi tầng sinh phèn xuống dưới để lớp phù sa lên trên mới có hiệu quả.

   4. Nhóm đất phèn:

Đất phèn có diện tích khoảng 146.672,2 ha chiếm 45,01% diện tích tự nhiên của tỉnh bao gồm:

* Đất phèn hoạt động:

Có diện tích lớn nhất 98.070,2 ha chiếm 30,09% diện tích tự nhiên của tỉnh, chia làm ba loại:

- Đất phèn hoạt động phèn nhiều: Có diện tích 38.679 ha chiếm tỷ lệ 11,8% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bổ chủ yếu ở các huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười: Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông. Căn cứ vào độ sâu xuất hiện của tầng Jarosit (lớn hoặc nhỏ hơn 50 cm) mà ta chia làm hai loại nữa. Đây là vùng đất phèn nặng của tỉnh, không thể khai thác trồng lúa có hiệu quả ngay mà nên trồng tràm. Thành phần chính là sét chứa nhiều chất hữu cơ bán phân giải.

- Đất phèn hoạt động phèn trung bình và ít: Có diện tích 93.873 ha chiếm tỷ lệ 28,8% diện tích tự nhiên của tỉnh. Phần lớn là đất phèn trung bình phân bố chủ yếu ở vùng sâu Đồng Tháp Mười. Căn cứ vào độ sâu xuất hiện của tầng Jarosit mà ta chia ra làm hai loại nữa. Có tất cả bốn loại đất phèn loại này. Thành phần chủ yếu là sét, bột màu xám đen, xám nâu. Đất giàu chất hữu cơ cho nên lượng đạm và kali khá, rất nghèo lân, lượng độc tố thấp. Do đó khi canh tác trên đất này cần phải chú ý bón nhiều lân mới có hiệu quả.

* Đất phèn tiềm tàng:

Đất phèn tiềm tàng có diện tích nhỏ hơn nhiều so với đất phèn hoạt động khoảng 48.602 ha chiếm tỷ lệ 14,98% diện tích tự nhiên của tỉnh. Hiện nay hầu hết đất phèn tiềm năng đang bắt đầu chuyển hóa thành đất phèn hoạt động do sự hạ thấp mực nước ngầm của các công trình thủy lợi, khai hoang. Đất phèn tiềm năng cũng chia thành hai loại:

- Đất phèn tiềm tàng phèn nhiều: có diện tích 14.120 ha, chiếm tỷ lệ 4,33% diện tích tự nhiên của tỉnh. Căn cứ vào sự xuất hiện của tầng pyrit (trên dưới 80 cm) người ta chia đất này làm hai loại nữa. Thành phần vật liệu chủ yếu là sét, ít bột. Đất chứa nhiều chất hữu cơ bán phân giải, màu xám, xám đen, có độ phì tiềm tàng rất cao, đạm và kali khá, rất nghèo lân.

- Đất phèn tiềm tàng phèn trung bình: có diện tích 34.482 ha chiếm tỷ lệ 10,59% diện tích tự nhiên của tỉnh. Thành phần vật liệu: sét là chủ yếu, ít bột, có nhiều chất hữu cơ bán phân hủy màu xám nâu, xám xanh. Đất có độ phì tiềm tàng cao: giàu đạm, kali trung bình, rất nghèo lân, lượng độc tố trung bình, thấp. Hiện nay dân đang khai thác đất này để trồng lúa. Có điều kiện thuận lợi là đất chuyển hóa từ từ, lượng độc tố phát sinh cũng từ từ cho nên hàng năm cải tạo, tháo chua rửa phèn có hiệu quả rõ rệt.

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: