trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Từ buổi đầu khai phá đến khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ

Từ khoảng trên 300 năm trước, vùng đất mà ngày nay được gọi là đồng bằng sông Cửu Long (sử cũ còn gọi là Thủy Chân Lạp) mới bắt đầu hình thành những “khu dân cư” và phát triển cho đến ngày nay. Trước đó là thời kỳ của vương quốc Phù Nam nhiều biến động.

Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng đến đầu thế kỷ 17, những người Việt từ miền ngoài (Bắc bộ, Bắc Trung bộ) đã lần lượt đi vào phương Nam khai thác đất đai và định cư rải rác. Trong khoảng 300 năm, các cuộc di dân của người Việt đến vùng đất mới diễn ra liên tục. Cho đến nửa đầu thế kỷ 19, những cột mốc di dân vào Nam có thể ấn định qua sử sách:

- Năm 1620, vua Chân Lạp Chey Chetta 2 cưới một công nương của chúa Nguyễn; người Việt được phép vào khai khẩn vùng Bà Rịa, Đồng Nai. Cho đến năm 1623, một số người Việt đã định cư làm ăn ở Prey Nokor (Sài Gòn).

- Năm Mậu Tý (1648): Chúa Nguyễn bổ sung lực lượng khai mở đất đai bằng ba vạn tù binh Đàng Ngoài vào, tiếp tục khai thác vùng đất từ Quảng Nam trở vào... Gần 40 năm sau “Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố...”[1] - Năm 1679: nhóm người Hoa khoảng trên dưới 3.000 người[2] do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch vì “phản Thanh phục Minh” nên kéo sang Việt Nam tỵ nạn, chúa Nguyễn lại cho phép họ vào sinh sống ở vùng Biên Hòa, Mỹ Tho...

- Đến cuối thế kỷ XVII: một đợt chuyển dân và định cư có tổ chức và qui mô lớn khi Nguyễn Hữu Cảnh (Kỉnh) vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào “Kinh dinh” đất Gia Định (1698). Số dân của vùng đất này đã lên đến trên 200.000 người (4 vạn hộ). Hai huyện Phước Long, Tân Bình được hình thành với hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn .

- Năm 1756: Nguyễn Cư Trinh tiếp thu vùng đất Lôi Lạp (Soài Rạp), trong báo cáo gởi về cho chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông viết: “Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn...đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người...”[3]. Khoảng hơn hai năm sau (1759), vùng đất Tầm Phong Long (từ biên giới Châu Đốc theo dọc sông Tiền, sông Hậu cho đến Trà Vang) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn quản lý.

- Tiếp theo là cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh gần ¼ thế kỷ (1777-1802) đã để lại những dấu ấn không nhỏ về dân cư. Khi làm chủ được vùng đồng bằng, từ sau 1790, Nguyễn Ánh xây dựng kinh tế bằng cách ra lệnh cho binh lính làm ruộng, lập đồn điền. Sau này, khi lên ngôi (1802), Gia Long phát triển thêm nhiều hình thức đồn điền và doanh điền để khai thác đất đai. Cho đến đời Minh Mạng, Trương Minh Giảng còn tiếp tục đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền[4].

Để hình dung được một phần quá trình hình thành và phát triển dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay, chúng ta có thể dựa vào thư tịch cổ, kiến thức về lịch sử, địa lý, về những qui luật của tự nhiên, môi sinh, kinh tế, xã hội... và những cứ liệu thu thập được từ thực địa, điền dã.v.v...

Vào khoảng thế kỷ thứ 15[5], nhóm người Khơme đã lập ra những khu vực lõm (có thể là sóc, phum, xóm) để sinh sống trên những gò đất cao ráo. Dấu vết còn lại ngày nay là ở tên gọi: “Sa Đéc” có rạch Cao Mên, “Nha Mân”, Liếp Cao Mên (Cao Lãnh), ở cù lao Tây (huyện Thanh Bình) có “Bến Thiêu” sau gọi thành Bến Siêu.v.v...Số người Khơme này không rõ là bao nhiêu, họ ở rải rác, rời rạc, còn tập trung thì có lẽ ở xung quanh mấy nơi trên, khác với những vùng tập trung ổn định ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Tri Tôn (Châu Đốc), Rạch Giá.

Hoạt động của những người Khơme này là nhằm thăm dò khả năng định cư lâu dài, họ chọn những giồng, gò cao ven sông, hoặc nơi nào phù hợp với tập quán sinh sống và phương thức khai thác còn nhiều nét nguyên sơ của họ.

Cuối thế kỷ 16 đã diễn ra sự biến đổi mới về dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long: Những đợt lưu dân người Việt xuất hiện. Các ông vua cuối mùa nhà Lê làm cho chế độ phong kiến suy tàn; tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn làm cho loạn lạc liên tiếp diễn ra. Nhân dân chán ghét, phiêu bạt nhiều nơi:

“Nhiều nhóm dân cư người Việt vùng ven biển Trung bộ đã dùng thuyền vượt biển đến cư trú ở miền Nam: ở nhũng vùng ven biển Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên và những vùng đất hoang màu mỡ ở Long An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc vào nửa đầu thế kỷ 16.

Mãi đến thế 17, đồng bằng sông Cửu Long nói chung vẫn chưa khai phá được bao nhiêu, dân cư còn rất thưa. Ở đây, từ trước đã có những nhóm di dân người Việt vào làm ăn. Họ là những nông dân nghèo khổ di cư vào phương Nam để tránh áp bức bóc lột và bằng sức lao động của mình cùng với nông dân người Chăm, Khơme khai khẩn đất hoang, cùng nhau tổ chức đời sống. Công cuộc di cư và khẩn hoang của họ là một nhân tố tích cực góp phần phát triển kinh tế địa phương và cũng là một cách thức đấu tranh của nông dân Việt Nam chống áp bức, bóc lột, phong kiến”[6].

Vào đầu thế kỷ 17, đại đa số người Việt gốc Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, đông hơn cả là  người ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đến cư trú các vùng đất Biên Hòa, Long An, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long ngày nay[7].

Buổi đầu những nhóm người Việt cư trú ở những điểm mang tính chất tự quản và biệt lập. Họ tiếp xúc với người Khơme một cách ôn hòa, tự nhiên, cùng chung lưng đấu cật khai phá ruộng nương vì họ đều là những người nghèo khổ.

Christophoro Borri, một giáo sỹ người Ý đã đến vùng đồng bằng sông Cửu Long hồi đó và có nhận xét rằng: “dân ở đây sống hòa thuận với nhau, cư xử với nhau rất thẳng thắn, thật thà y như anh em ruột thịt được nuôi sống và khôn lớn trong một gia đình.”[8].

Vào thập niên tám mươi của thế kỷ 17 (1680), đồng bằng sông Cửu Long lại đón nhận những nhóm cư dân người miền Nam Trung Hoa. Đó là những gia tướng, binh lính của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch chạy sang Việt Nam cầu cứu chúa Nguyễn cho họ tỵ nạn, vì họ đã chống lại nhà Mãn Thanh, mưu đồ phục hồi nhà Minh nhưng đã thất bại. Khi mới sang họ cập bến Đà Nẵng (Quảng Nam), nhưng chúa Nguyễn chỉ định cho họ vào cư trú ở hai nơi: Biên Hòa - Gia Định và Mỹ Tho - Sa Đéc[9].

Khi những người Trung Hoa này đến, họ đã thấy làng xóm của nông dân Việt, đặc biệt khá đông đúc ở vùng đất Long Hồ cũ (nay là Vĩnh Long). Nhóm di thần của nhà Minh này mang tâm trạng tha phương lưu lạc, chán ghét phong kiến Trung Hoa... nên đã sớm hòa nhập vào cộng đồng người Việt tại chỗ. Những gia đình Việt-Hoa nảy nở, trong đó yếu tố Việt mang tính trội nên chỉ qua đôi ba thế hệ, những người Trung Hoa sau này hầu như đã trở thành người Việt chính cống, mặc dù về mặt tâm lý họ còn cố giữ ý niệm mình là người “Minh Hương”- nghĩa là cùng quê hương với Minh Thành Tổ.

Trong quá trình hội nhập, dần dà những người Trung Hoa giỏi buôn bán, thạo nghề nông đã kết hôn với phụ nữ Việt. Họ tản mát nhiều nơi theo sông Tiền, sông Hậu. Trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay có hai nơi mang địa danh “Cái Tàu”: Cái Tàu Thượng (Đất Sét, nay thuộc xã Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò), Cái Tàu Hạ (nay là thị trấn của huyện Châu Thành). Về mặt tên gọi, căn cứ vào thực tế và những cứ liệu lịch sử có đối chiếu, chúng ta biết được nơi vàm những con rạch này đã có những người Hoa đến ở và lập nghiệp sớm nhất so với những người Hoa đến sau này.

Cho đến cuối thế kỷ 17, những vùng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn mang tính tự trị địa phương rất sâu sắc, những vùng ấy chưa thiết lập được thường xuyên những quan hệ kinh tế - xã hội. Nói cách khác, đó là những vùng cư trú biệt lập về mặt địa lý, dân cư, dân tộc, kinh tế - xã hội. Các chúa Nguyễn chỉ quản lý về mặt hình thức; các nhóm cư dân này chỉ chịu “thần phục” và nạp “cống vật”- một hình thức chịu thuế là được. Dù rằng từ năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lời chúa Nguyễn vào “Kinh dinh” đất Gia Định, đặt ra phủ, huyện, trấn, thành, nhưng tính chất tự trị những vùng đất này vẫn còn rõ nét.

            Vào năm 1757[10], khi vua Chân Lạp là Nặc Tôn giao trọn quyền quản lý vùng đất Tầm Phong Long (trong đó có địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay) cho chúa Nguyễn thì trên thực tế đã có người Việt, người Hoa, người Khơme cùng nhau sinh sống.

Những yếu tố khác  không kém phần quan trọng, tác động đến sự hình thành cư dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay là:

Từ năm 1776 đến 1783, quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh đã từng giao tranh nhiều lần trên vùng đất này, sự phiêu tán của cư dân hầu như liên tục. Thêm vào đó, sự tan rã tại chỗ của binh sỹ các đạo quân của chúa Nguyễn hoặc của Tây Sơn trên địa bàn sông Tiền, sông Hậu đã để lại những vùng cư dân theo các con rạch mà ngày nay vẫn còn mang tên Hùng Ngự (Hồng Ngự), Ông Chưởng, Đốc Vàng, Chợ Thủ, Lấp Vò, Long Hậu, Long Hưng, Thủ Cũ, Mỹ Long.v.v...

Nghiên cứu thực địa cho thấy dọc hai bên bờ sông Tiền từ phía bắc Sa Đéc trở lên, đặc biệt phía tả ngạn từ Cao Lãnh lên Thanh Bình, Hồng Ngự, nhiều ngôi nhà của nông dân còn mang kiểu dáng nhà ở miền Trung (vùng Bình Định, Qui Nhơn, Quảng Ngãi). Trước cửa nhà là những chắn song trống trải, từ phía trước có thể nhìn thẳng vào trong nhà, cửa ra vào lại ở hai bên hông nhà (đầu hồi)[11].    

Chính sách đồn điền của chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn càng làm tăng thêm số người dân từ các địa phương miền Bắc, Trung gia nhập vào lực lượng cư dân đã có từ trước. Hiện còn dấu vết kho Bả Canh ở Cao Lãnh, rạch Cao Bường, Bờ Rào (Lấp Vò). Vùng Bình Tiên, Tân Phú Trung (Châu Thành)... là những nơi quân đồn điền đã đến khai khẩn theo lệnh của các vua quan nhà Nguyễn rồi ở lại lập nghiệp, sinh con đẻ cái về sau...

Tương tự quá trình phát triển dân cư ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trên địa bàn Đồng Tháp ngày nay đã tiếp nhận các đợt chuyển cư từ miền ngoài vào cho đến thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19 lúc ào ạt, lúc thưa thớt, nhưng liên tục trải qua hơn ba thế kỷ nay.

Căn cứ vào các gia phả (phổ hệ), mà chủ yếu là truyền miệng, được ghi chép lại sau này, cộng với những cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể hình dung các luồng chuyển cư chính đến địa bàn tỉnh Đồng Tháp tạo thành những cộng đồng cư dân tại địa phương:

- Luồng thứ nhất là từ phía Bắc và Đông Bắc (tức từ hai huyện Phước Long, Tân Bình, từ đất Ba Giồng, dinh Long Hồ là nơi trung chuyển) tỏa về phía Tây Nam. Luồng này chủ yếu là sự chuyển dịch cư dân, tương đối chậm và ít.

- Luồng thứ hai, theo gió mùa hàng năm, bằng ghe bầu, các nhóm lưu dân theo các cửa Tiểu, cửa Đại, ngược sông Cửu Long tiến sâu vào nội địa, rồi tỏa ra định cư dọc theo hai bên bờ sông lớn, các con rạch, vùng đất cao ráo, sông sâu nước ngọt. Đây là luồng chuyển cư chính đối với các huyện phía Nam tỉnh Đồng Tháp ngày nay.

- Luồng thứ ba là: từ phía Nam tiến dần lên (từ Hà Tiên, Cà Mau...) định cư dọc bờ Bắc sông Hậu (Lấp Vò, Lai Vung).

Chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, tiếp theo là các chính sách trả thù khốc liệt của Gia Long, Minh Mạng đối với những người “ủng hộ giặc Tây Sơn”, “ngụy Khôi”, cùng với chính sách đàn áp tôn giáo... đã gây nên biết bao xáo trộn trong đời sống dân cư. Rồi những thập niên 60-70 của thế kỷ 19, xâm lược Pháp đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp cho cả vùng đất Nam Kỳ lúc đó. Nhiều người, nhiều gia đình đã bao lần thay tên đổi họ để che dấu tông tích, hầu tránh sự nhiễu nhương có thể xảy ra cho bản thân và gia đình mình.

Khi thực dân Pháp nổ súng tiến đánh Sài Gòn, rồi thôn tính ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Tấn Kiều... đã thu hút đông đảo nghĩa dân từ đất Ba Giồng (Định Tường), Bến Tre và nhiều nơi khác gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân. Căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười hình thành. Có thể nói lực lượng nghĩa quân của Thiên Hộ Dương là những người đầu tiên tiến sâu vào vùng nê địa này. Khi cuộc kháng chiến tan rã, không ít nghĩa quân đã bám trụ lại , bổ sung cho lực lượng cư dân vốn ít ỏi hoặc hầu như chưa có ở dọc theo biên giới phía Bắc của tỉnh Đồng Tháp ngày nay (tức Hồng Ngự, Tân Hồng...).

Ngoài ra còn phải kể đến những biến cố dịch bệnh làm suy giảm số dân địa phương không ít. Chỉ trong vòng 25 năm (từ 1802-1826) nhiều trận dịch bệnh lớn đã làm chết hàng vạn sinh mạng.

Năm 1819, bệnh thời khí xuất hiện vùng Kiến Thạnh (làng Long Kiến, tỉnh An Giang) rồi lan xuống vùng Tòng Sơn (Sa Đéc). Bước sang năm 1820, dịch tả lại hoành hành tại Cao Lãnh...[12].

Cũng năm 1820, hơn 50.000 người từ Hà Tiên đến Thừa Thiên bị chết vì bệnh dịch. Riêng ở Nam kỳ vào năm 1826 dịch bệnh hoành hành làm cho hơn 16.000 người chết. Lẻ tẻ từng địa phương, “ôn dịch” đã cướp đi không ít số dân của các xóm, làng.

Những con số về dân đinh dưới triều Nguyễn cho ta hình dung được phần nào tình hình dân cư, mật độ dân số trên vùng đất này. Đại Nam Nhất Thống Chí Đại Nam Thực Lục ghi:

Năm 1829, tổng kê hộ khẩu của cả nước có 719.510 dân đinh. Trong đó Gia Định (bao gồm 5 trấn) có 118.790 dân đinh (ước vào khoảng 600.000 người có hơn)[13].

Năm 1816 đến khoảng 1865, số liệu về dân đinh của các tỉnh Vĩnh Long (trấn Vĩnh Thanh), Định Tường, An Giang là:

 

Số đinh năm 1816

Ước lượng số dân năm 1816

Số đinh sau năm 1865

Ước lượng số dân sau năm 1856

Vĩnh Long

Định Tường

An Giang

37.000 định

19.800 đinh

25.645 đinh

(năm1832)

222.000 dân

118.800 dân

153.870 dân

28.323 đinh

22.584 đinh

15.065 đinh

169.938 dân

135.504 dân

90.390 dân

 

Cộng

82.445

494.670

65.972

395.832

 

Trong nửa đầu thế kỷ 19, trên địa bàn của ba tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang (tỉnh Đồng Tháp ngày nay nằm trên địa bàn của ba tỉnh này) đã có sự thay đổi tăng giảm số dân theo những biến động có thể giải thích như sau:

Sau chiến tranh với Tây Sơn, năm 1802, Gia Long lên ngôi đã ổn định một phần đời sống của lưu dân, khuyến khích khai hoang lập ấp ở trấn Vĩnh Thanh (trong đó có Vĩnh Long và một phần An Giang) làm tăng nhanh dân số. Vai trò của dinh Long Hồ có thể xem như tụ điểm dân cư để từ đó tỏa đi các nơi khác. Lúc bấy giờ Định Tường đóng vai trò “trái độn” trung chuyển; đất Ba Giồng chưa hấp dẫn mấy đối với nhiều lưu dân, mặt phía Đông là biển cả, mặt phía Tây là nê địa “Chàm Mãng Trạch”, tức Đồng Tháp Mười chưa thể khai thác được.

Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông rồi miền Tây Nam Kỳ tình hình có khác; đất Vĩnh Long (Long Hồ) mặc dù được Pháp tạm thời trả lại cho triều đình sau hòa ước 1862, nhưng thực chất vẫn bị chúng  lăm le, đe dọa lấn chiếm để làm đầu cầu nuốt trọn Nam Kỳ.

Trong khi một số dân các tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định) “tỵ địa” sang Vĩnh Long, An Giang thì dân vùng này lại chuyển về phía Hà Tiên[14]. Do vậy, Vĩnh Long và An Giang số dân đều giảm. Nhưng Định Tường thì có khác, Định Tường là “điểm nóng” của các cuộc kháng Pháp đầu tiên ở Nam Kỳ và cả nước. Một lực lượng quân đồn điền, nghĩa quân và gia binh vẫn bám lấy chiến trường Định Tường (từ đất Ba Giồng cho đến Gò Tháp - Đồng Tháp Mười) để chiến đấu chống giặc. Thời gian này dân số Định Tường không giảm mà lại tăng.

Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng 1820 cho biết tổng Kiến Phong (huyện Kiến Đăng, phủ Kiến An, trấn Định Tường) có 43 thôn. Còn huyện Vĩnh An (thuộc trấn Vĩnh Thanh) có hai tổng Vĩnh Trinh và Vĩnh Trung với 81 thôn phường.

Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết dịch trạm trên sông ở huyện Vĩnh An được đặt ở hai nơi là trạm sông Giang Đông ở thôn Tân Đông và trạm sông Giang Mỹ ở thôn Mỹ An[15]. Điều này cho thấy mật độ giao thông thủy trên sông Tiền hồi này đã khá tấp nập.

Từ đầu đến nửa cuối thế kỷ 19, những vùng dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay cơ bản đã định hình. Nông nghiệp trồng trọt là chính, bên cạnh là nghề đánh bắt cá (cá sông, cá đồng). Tiểu thủ công nghiệp cũng bắt đầu hình thành do những người thợ trong lớp lưu dân đem theo nghề từ quê cũ đến đất mới, chủ yếu là làm ra những nông cụ vật dụng phục vụ cho khai hoang, trồng trọt, về sau hình thành những xóm nghề như nghề rèn ở Cái Tàu Hạ, nghề đan lát, đóng cối xay, cối giã (Sa Đéc, Cao Lãnh...), nghề nuôi tằm dệt vải (Ở cù lao Long Khánh, Hồng Ngự...)

Nhu cầu mua bán, trao đổi càng trở nên cần thiết. Các chợ đã hình thành như Tân Phú Đông, Hòa An, Tân Thuận, Mỹ An, Long Hậu, Bình Thành Tây, Nha Mân... quan trọng và sầm uất hơn cả là chợ Vĩnh Phước (tức chợ Sa Đéc).

Về phương diện văn hóa, việc thành lập các huyện học, phủ học cũng nói lên mức độ của dân cư từng vùng. Phủ học Kiến Tường đặt ở thôn Mỹ Trà (thị xã Cao Lãnh ngày nay) vào năm Minh Mạng thứ 19 (1838), còn Văn Thánh miếu do tri phủ Hồ Trọng Đính đề xuất xây cất tại thôn Mỹ Trà vào năm 1857.

Phía Sa Đéc, phủ học Tân Thành đặt ở thôn Vĩnh Phước được xây cất khá sớm, từ năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Huyện học An Xuyên ở thôn Tân Hội (Nha Mân) cũng được cất vào năm 1839. Một tư liệu cho biết vào đời Tự Đức, trong một kỳ thi sát hạch ở An Giang có ba người hạng trung bình, 167 người hạng thứ quê ở các làng Long Hậu, Tân Dương, Mỹ An, Hội An, Hòa An...[16]

Về văn hoá vật chất, cư dân ở đây sử dụng các công cụ lao động nghề nông, nghề cá ở quê cũ và đã nhanh chóng tiếp thu, cải tiến các công cụ lao động của người Khơme cho phù hợp với từng vùng canh tác, như phảng phát cỏ, đòn xóc lúa len đào đất, dao bứng lúa và nhiều công cụ khác.v.v...Nhà ở thì từng bước xây dựng theo kiểu dáng nhà từ đồng bằng Bắc bộ , miền Trung được cải tiến cho phù hợp, thích nghi với khí hậu nóng ẩm, mưa nắng hai mùa, đặc biệt là lũ lụt hàng năm. Trên vùng đất giồng cao ráo thì làm nhà nền đất, chọn nơi sông sâu nước chảy, vườn ruộng nối tiếp nhau, nơi đất thấp, mùa nước lụt nước lên cao thì làm nhà sàn.

Phía bắc sông Tiền, vùng Đồng Tháp Mười cho đến đầu thế kỷ 20, dân cư vẫn còn thưa thớt vì đó là vùng đầm lầy, ngập sâu vào mùa nước.

Yếu tố địa lý tự nhiên, môi sinh sẽ qui định những vùng định cư sớm hay muộn. Vùng cao ráo, sông sâu nước chảy sẽ có người đến khai phá, lập ấp, lập làng sớm hơn  vùng sâu, xa sông lớn. Càng xa sông Tiền, sông Hậu, sâu vào các con rạch, dân cư buổi đầu càng ít, ở phía Nam sông Tiền hầu như thôn xóm hình thành nhiều và sớm hơn phía bắc sông Tiền.

Những số liệu về số thôn, số ruộng đất, số dinh ở Nam Kỳ (các vùng đất có liên quan đến địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay) giúp ta hình dung rõ hơn về tốc độ và khu vực hình thành các cộng đồng dân cư.

Năm 1819:

Gia Định Thành

Ruộng đất (sở)

Số đinh (người)

Trấn Phiên An

4.800

28.200

Trấn Biên Hòa

2.800

10.600

Trấn Định Tường

7.000

19.800

Trấn Vĩnh Thanh

9.000

37.000

Trấn Hà Tiên

60

1.500

Cộng

23.600

97.100

  Năm 1836 và 1847:

Nam Kỳ Lục tỉnh

Ruộng đất (mẫu)

Số đinh (người) 1836

Số đinh (người) 1847

Biên Hòa

14.195,512

10.242

16.949

Gia Định

171.995,110

34.124

51.788

Định Tường

138.759,812

20.167

26.799

Vĩnh Long

179.759,664

27.457

41.336

An Giang

96.869,760

15.136

22.998

Hà Tiên

3.006,575

1.481

5.728

Cộng

630.075

108.607

165.598

 

Riêng năm 1840 có số liệu như sau:

Nam Kỳ lục tỉnh

Số đinh (người)

Ruộng đất (mẫu)

Biên Hòa

12.190

14.932

Gia Định

32.826

175.063

Định Tường

22.584

148.878

Vĩnh Long

28.323

139.932

An Giang

15.065

88.336

Hà Tiên

5.793

1.699

Cộng

116.781

528.840

   Lấy con số thống kê về dân đinh vào năm 1847 của triều Nguyễn (qua Đại Nam Thực Lục) và thống kê của thực dân Pháp vào năm 1867, ta thấy như sau:

Địa danh (tỉnh)

Số đinh năm 1847 (ĐNTL)

Theo Annuaire de la Cochinchine

Biên Hòa

16.949

9.859

Gia Định

51.788

19.247

Định Tường

26.799

7.937

Vĩnh Long

41.336

15.090

An Giang

22.998

14.033

Hà Tiên

5.728

2.192

Cộng

165.598

68.398

 So sánh ta thấy con số chênh lệch quá đáng, sau 20 năm, dân đinh không tăng lại giảm, điều này cho phép suy luận rằng: năm 1859, thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, năm 1861 chiếm ba tỉnh miền Đông, năm 1867 chiếm nốt ba tỉnh miền Tây cũng tiến hành thống kê dân số, nhưng người dân Việt yêu nước đã không đăng ký vì không muốn đóng thuế cho thực dân. Số đinh đăng ký quá ít này là những người bị bắt buộc phải khai báo hoặc đành chịu phải ở lại trong vùng giặc kiểm soát.


Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: