trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Dân số

      1. Trước năm 1975:

Sa Đéc với diện tích tự nhiên 78.920 ha, có số dân là 318.556 người. Trong đó, người Kinh chiếm đa số (314.600 người), kế đến là người Việt gốc Hoa (3.907 người), người Việt gốc Khơme (30 người), Ngoại kiều (09 người).

 Kiến Phong, diện tích tự nhiên 265.732 ha, có số dân là 445.599 người, bao gồm: 443.358 người Kinh, 1.581 người Việt gốc Hoa, 650 người Việt gốc Khơme và 10 người Chăm.

Để có con số tương đương với tỉnh Đồng Tháp sau 1975, ta có thể cộng chung diện tích và dân số của hai tỉnh trên, cụ thể như sau:

+ Diện tích : 344.652 ha.

+ Dân số:764.155 người.                   

Thành phần

Tổng số

Sa Đéc

Kiến Phong

 

764.155

318.556

445.599

Kinh

758.199

314.600

443.358

Việt gốc Hoa

5.488

3.907

1.581

Việt gốc Khơ-me

680

30

650

Việt gốc Chăm

10

-

10

Ngoại kiều

09

09

-

      2.  Sau năm 1975:

- Năm 1979:  Đồng Tháp có diện tích tự nhiên: 344.400 ha.

                      Dân số: 1.182.800 người (mật độ: 349 người /km2).

- Năm 1984: Diện tích tự nhiên: 339.000 ha (đã điều chỉnh địa giới với các tỉnh bạn).

   Dân số: 1.326.000 người (mật độ: 375 người /km2).

- Ngày 1- 4 - 1989: Tổng điều tra dân số, có 243.489 hộ với số dân là 1.336.744 người.

Bao gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Khơ-me, Chăm, Thái, Tày, Mường, Nùng, Gia Rai, Phú Ca, người nước ngoài và những người không xác định được nguồn gốc dân tộc.

Trong đó, nông dân chiếm khoảng 80% dân số, số người có đạo chiếm khoảng 60% dân số.

     3.  Thực trạng dân số của tỉnh:

+ Trước 1995:

- Dân số và tốc độ gia tăng dân số:

Đến cuối năm 1995, dân số tỉnh Đồng Tháp đã lên tới 1.523.371 người (Nam: 720.517 người; Nữ: 801.854 người). Khu vực thành thị: 138.692 người; khu vực nông thôn: 1.283.679 người. Như vậy, từ năm 1990-1995, dân số tỉnh Đồng Tháp đã tăng lên 149.486 người, hơn dân số của hai huyện Tam Nông và Tân Hồng cộng lại (76.206 người + 60.717 người = 136.923 người).

Theo điều tra của UBDS-KHHGĐ (năm 1994) thì dân số toàn tỉnh là 1.450.982 người, bao gồm: 1.445.655 người Kinh; 5.223 người Hoa; 104 người Khơme.

Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên năm 1990 là 1,93%; năm 1995 là 1,88% (bình quân giai đoạn 1990 - 1995 là 1,95%).

Tốc độ gia tăng như thế còn ở mức cao. Vả lại, do dân số trẻ, phụ nữ đến tuổi sinh đẻ năm sau cao hơn năm trước, nên nếu không được kềm chế và kéo giảm xuống mức 0,4 - 0,6% thì đến năm 2000, dân số của tỉnh sẽ lên đến 2.206.700 người. Dẫn đến, mọi chi phí cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội được đặt ra trước những thách thức hết sức gay gắt. Bằng nhiều biện pháp, tỉnh cố gắng hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên để đến năm 2000, dân số toàn tỉnh là: 1.655.900 người. Năm 2005 là 1.763.100 người và năm 2010 là 1.863.800 người.

Trừ huyện Tam Nông (tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên thấp: 1,65%),  các huyện Bắc sông Tiền còn lại tỷ lệ này đều cao: Hồng Ngự (1,92%), Tân Hồng (2,0%), Thanh Bình (2,0%), Cao Lãnh (1,93%).

Các huyện khác, nhất là hai thị xã, tỷ lệ tiếp tục giảm đáng kể: thị xã Cao Lãnh (1,42%), thị xã Sa Đéc (1,28%). Song, do tốc độ đô thị hóa cao, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ mở ra, đã thu hút nhiều người đến làm việc và lao động. Chẳng hạn, từ khi thị xã Cao Lanh trở thành tỉnh lỵ Đồng Tháp, số người tăng trên 1.000, chủ yếu là cán bộ, công nhân viên cùng gia đình chuyển đến.

Tuy có những biến động bất thường trong từng thời kỳ nhất định, thường là ở những huyện vùng biên giới, nhìn chung, tỷ lệ tăng giảm cơ học  về dân số của tỉnh Đồng Tháp không đáng kể vì không có di dân tự do.

- Cơ cấu dân số:

Đồng Tháp là một tỉnh nông nghiệp, cư dân nông nghiệp sống trên địa bàn nông thôn chiếm tỷ lệ lớn (1.283.679/1.523.371 người), dân số thành thị chỉ có 238.692 người. Nếu kinh tế phát triển, tốc độ đô thị hóa nhanh, công nghiệp và dịch vụ mở rộng thì dân số thành thị cũng theo đó tăng lên. Dự kiến 221.100 người (năm 2000), 241.200 người (năm 2005) và 265.200 người (năm 2010).

- Mật độ dân số trung bình:

449 người/km2. Dân cư phân bố không đều, vùng ven và giữa sông Tiền sông Hậu là nơi dân ở tập trung. Đó là thị xã Sa Đéc (1.802), thị xã Cao Lãnh (1.241), Hồng Ngự (690), Thạnh Hưng (nay là Lấp Vò: 695), Lai Vung (664)... Các huyện trong vùng sâu Tháp Mười, mật độ dân cư thưa thớt; Tân Hồng (198), Tháp Mười (188), Tam nông (171).

Mật độ vùng Nam sông gần gấp đôi vùng Bắc sông (942/477), thị xã Sa Đéc đông hơn thị xã Cao Lãnh (1.802/1.241), huyện đông dân ở nam sông mật độ cao hơn huyện đông dân ở bắc sông (Thạnh Hưng: 695, Hồng Ngự: 690).

Mật độ cư dân của tiểu vùng 1 và tiểu vùng 2 thuộc vùng Bắc sông càng chênh nhau nhiều (tiểu vùng 1: 682, tiểu vùng 2: 185).

  - Trình độ dân trí:

Cũng theo điều tra trên, trình độ học vấn của người dân trung bình còn thấp. Số đã và sẽ tốt nghiệp bậc tiểu học (cấp I) là 733.122 người (chiếm 50,50% dân số), bậc phổ thông cơ sở (cấp II) là 263.406 người (chiếm 18,15%), bậc phổ thông trung học (cấp III) và trung học chuyên nghiệp là 102.855 người (chiếm 7,08%). Trình độ Cao đẳng, Đại học và trên Đại học có 5.207 người, chiếm 0,34%).

Cũng với trình độ bậc tiểu học (chiếm trên 50% dân số) là số mù chữ và tái mù chữ cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể: 219.894 người (chiếm 15,15%). Đáng chú ý là ở các huyện: Hồng Ngự có: 50.201/206.800 người (chiếm 24,2% dân số của huyện), Tân Hồng có 14.248/58.600 người (chiếm 24,3%), Tam Nông có 14.795/73.300 người (chiếm 20%)[1].

+ Giai đoạn 1996 - 2005.

               - Thời đoạn 1996 - 2000: Chiến lược Dân số đến năm 2000 đã tập trung giải quyết cơ bản vấn đề qui mô dân số. Cụ thể là giảm nhanh mức sinh.

            Qua tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999, qui mô dân số tỉnh Đồng Tháp là 1.558.209 người, so với tổng điều tra 1/4/1989: 1.372.885 người (tăng thêm 185.324 người).

Năm 2000, dân số trung bình là 1.573.322 người, so với dự báo của chiến lược dân số đã giảm đi 82.578 người (dự báo dân số năm 2000 là 1.655.900 người). Kết quả trên, khẳng định xu thế giảm nhanh mức sinh trong thập kỷ qua.

 Mức sinh đã giảm nhanh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ: 4,21 năm 1989 xuống còn 2,19 năm 2000) và đang tiến tới mức sinh thay thế (2,1 con trên phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ)

Kết quả giảm sinh đạt được đã có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. GDP bình quận đầu người những năm trong thập kỷ qua đã tăng thêm 4,10% (chỉ tính riêng có chương trình DS- KHHGĐ tác động).

Đến nay, khi mức sinh đã kề với mức sinh thay thế, muốn duy trì, ổn định cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cần có chiến lược dân số kế tục và phát triển tiếp chiến lược dân số năm 2000 theo định hướng dân số và phát triển.

Tuy mức giảm sinh nhanh nhưng qui mô dân số vẫn ngày càng lớn, dân số trẻ, số phụ nữ bước vào tuổi đẻ ngày càng nhiều, do đó số dân tăng lên trung bình từ nay đến năm 2010 ngày càng ở mức cao, khoảng từ 1,13 đến 1,28%[2]

- Thời đoạn 2001 - 2005: Công tác DS - KHHGĐ thời đoạn này nằm trong Chiến lược Dân số tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2001 - 2010, được chia thành 2 thời đoạn: thời đoạn I (2001 - 2005) và thời đoạn II (2006 - 2010).

Mục tiêu chiến lược của thời đoạn I (2001 - 2005): Tập trung cho công tác tăng cường dịch vụ SKSS/ KHHGĐ; giảm 5 tai biến sản khoa, giảm sinh nhanh ở khu vực có mức sinh cao; giảm đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân; thực hiện giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số, tác động đến cơ cấu và phân bố dân cư, chủ yếu tập trung để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn tỉnh sớm hơn năm 2005.

Kết quả sau 5 năm  thực hiện, như sau: Đồng Tháp đã duy trì được mục tiêu giảm sinh và tăng nhanh số đối tượng áp dụng các biện pháp tránh thai theo từng năm thể hiện thông qua kết quả tỷ suất sinh (CBR) từ 16,16 năm 2001,giảm xuống còn 14,85 (đến cuối năm 2005), trung bình hàng năm giảm 0,26.

* Nhận xét:

Thực trạng trong những năm qua kết quả thực hiện chương trình DS - KHHGĐ đã tác động đến qui mô dân số, kềm chế được mức sinh theo xu hướng giảm dần và gần kề với mức sinh thay thế, song giải pháp thực hiện chưa thật sự bền vững, thể hiện qua nguy cơ tái tăng sinh và tăng đột biến tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trong năm 2004 và trong quí I năm 2005[3].


Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: