trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Giai đoạn thuộc Pháp (1867 - 1845)

Giặc Pháp đánh chiếm Định Tường ngày 12-4-1861. Vĩnh Long rơi vào tay giặc ngày 23-3-1862. Nhân dân Nam Kỳ không phân biệt tầng lớp đều đứng lên chống Pháp. Khi ba tỉnh miền Đông đã mất, nhiều người không chịu sống trong vùng giặc kiểm soát, đã bỏ cả sản nghiệp “tỵ địa” ra Bình Thuận, hoặc chạy sang ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nhưng rồi chỉ 5 năm sau giặc Pháp lại chiếm đóng Vĩnh Long (20-6-1867); An Giang (21-6-1867); Hà Tiên (24-6-1867). Thế là “ba tỉnh lại chầu ba!”, toàn cõi Nam Kỳ lục tỉnh rơi vào tay thực dân Pháp.

Thay cho chính sách thuế theo lối phân bổ cho từng làng của vua quan nhà Nguyễn, chính quyền thuộc địa của Pháp ra nghị định ngày 15-10-1880 thực hiện thuế ruộng và thuế thân theo kiểu mới ở Nam Kỳ; mỗi người là “nội đinh” hàng năm phải nộp một đồng bạc Đông Dương. Hai năm sau Tổng thống Pháp ra sắc lệnh ngày 5-10-1882 cho phép Thống đốc Nam Kỳ được thu thêm mỗi làng một khoản tiền để chi cho “giữ gìn trật tự trị an”, những làng có người tham gia phong trào chống Pháp đều phải nộp tiền phạt...

Sau cuộc thống kê không chính xác năm 1867, ngày 3-10-1883, Thống Đốc Nam Kỳ ra nghị định buộc các làng ở Nam Kỳ phải lập bộ sổ sinh, tử, giá thú để quản lý chặt dân số hơn nữa. Về cơ bản, kể từ 1880, thực dân Pháp xem như đã “ổn định” xong toàn cõi Nam Kỳ, các cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt. Hệ thống chính quyền thuộc địa buổi đầu dựa vào các cấp phủ huyện của nhà Nguyễn, rồi dần thiết lập các cấp “hạt”, rồi tỉnh, thành phố, quận, tổng, làng.

Kể từ sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ, những lưu dân phía Bắc không còn tiếp tục di chuyển vào đồng bằng sông Cửu Long liên tục như trước nữa, nếu có thì số lượng cũng không đáng kể, sự gia tăng dân số chủ yếu là do sinh đẻ tự nhiên và sự chuyển dịch từ vùng này sang vùng kia trong khu vực.

Ba tháng sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. P.Vial, giám đốc nội vụ, trong báo cáo ngày 17-9-1867, ngoài việc nhận xét tình hình, còn cung cấp một vài con số về cư dân, đặc điểm những nơi mà ông ta đến: Lúc trước ở ba tỉnh miền Tây này có khoảng 5.000 lính “đàng cựu” (lính của triều đình nhà Nguyễn), ở chợ Vĩnh Long có đường sá lót gạch. Chợ Sa Đéc rộng rãi có phần sung túc, náo nhiệt...Báo cáo cho Vial, tham biện Sa Đéc đề nghị rằng huyện Phong Phú (Ô môn, Cần Thơ) là vùng giàu có nhưng chưa kiểm soát được vì quá xa, cần lập ở đó một hạt tham biện. Từ Sa Đéc, Vial theo rạch Lấp Vò đi qua Rạch Giá, ở đoạn ra Hậu Giang, ngang huyện Đông Xuyên thấy các cù lao trên sông trồng rẫy , mía khá tốt...

Những con số trong các tài liệu của Pháp về những năm đầu của xứ Nam Kỳ thuộc địa chưa thể chính xác, song cũng là những chỉ dẫn cần thiết.

Năm 1873, cả Nam Kỳ có 1.500.000 dân, với diện tích trồng lúa là 600.000 mẫu tây, hoa màu và vườn tược có 90.000 mẫu tây.

Đến năm 1880, hạt (tỉnh) Sa Đéc có 128.702 dân và 53.386 mẫu tây ruộng theo bộ điền.

Đầu thế kỷ 20, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có những nét biến đổi lớn về môi trường sống; nền kinh tế hàng hóa phát triển. Sa Đéc là một trong những trung tâm được thực dân Pháp chú ý sớm nhất.

Trong vòng 5 năm đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã đặc biệt chú ý khai thác các địa phương: Sa Đéc, Cần Thơ, Rạch Giá, Long Xuyên và Châu Đốc. Đó là những vùng đất màu mỡ, với số dân tập trung trong các làng khá đông đúc, với hệ thống chính quyền thuộc địa của Pháp đã ổn định.

Tỉnh Sa Đéc có 7 làng được xếp loại đông dân nhất tỉnh là[1]:

- Làng Hội An : 8.675 người

-Làng Long Hậu: 5.712 người

- Làng Long Hưng: 6.783 người

-Làng Hòa An: 5.587 người

- Làng Phú Nhơn: 6.687 người

-Làng Tân Phú Đông: 5.353 người

-  Làng Tân Qui Đông: 4.913 người

 

So với Sa Đéc, 7 làng đông dân nhất của tỉnh Châu Đốc có từ khoảng 6.000 người đến gần 3.000 người:

- Làng Phú Thuận : 5.999 người

- Làng Mỹ Đức: 3.781 người

- Làng Long Khánh: 5.137 người

-Làng Thường Phước: 3.570 người

- Làng Long Phú: 4.948 người

- Làng Thường Thới: 2.789 người

- Làng Châu Phú: 4.847 người

 

Có thể xem Sa Đéc là một trong ba vùng (Sa Đéc, Cần Thơ, Châu Đốc) tập trung dân mang những đặc điểm dân cư và dân tộc tiêu biểu chung cho đồng bằng sông Cửu Long.

Ngay buổi đầu, thực dân Pháp đã nhìn thấy vị trí thuận lợi của Sa Đéc, bởi vì nơi đây là đầu mối giao thông đường sông, nối sông Tiền, sông Hậu, trực tiếp đóng vai trò giao lưu với thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn[2]. Điều đó cho ta hiểu vì sao ngay từ cuối thế kỷ 19, các kinh, rạch như Sa Đéc, Nha Mân, Cái Tàu, Lai Vung, Sanh Nhiên, Cái Chanh... đã dược thực dân Pháp cho nạo vét. Bước sang đầu thế kỷ 20, kinh tế hàng hóa phát triển, lúa gạo xuất cảng đã nhiều, Sài Gòn - Chợ Lớn có nhu cầu các tỉnh miền Tây cung cấp lương thực, thực phẩm, trái cây... nên thực dân Pháp lại phải cho đào thêm một hệ thống kinh, rạch mới, trong đó quan trọng nhất là kinh Lấp Vò nối với sông Sa Đéc, thành con đường thủy huyết mạch quan trọng của miền Tây (khánh thành năm 1907).

Năm 1903, tỉnh Sa Đéc có 10 tổng, 79 làng, dân số là 182.924 người. Ngoài ra còn phải kể thêm khoảng 15.000 dân sống bằng nghề chài lưới, đánh bắt cá trên sông, rạch, thường đậu ghe, lập xóm ở các vàm sông, rạch gần chợ. Trong 10 tổng thì 5 tổng phía Nam là có dân số đông nhất: An Trung, An Thới, An Thạnh Thượng, An Thạnh Hạ và An Phong. Các làng thuộc 5 tổng này có dân số trung bình khoảng 2.500 người. Chỉ có 13 làng có dân số từ 4.000 đến 6.000 dân, các làng còn lại, đông nhất cũng khoảng 2.000 dân, có làng chỉ có 200 đến 350 người. Vùng Đồng Tháp Mười vào đầu thế kỷ 20 hầu như chưa có cư dân sinh sống.

Châu Đốc, biên giới Campuchia, vào đầu thế kỷ 20 còn là vùng dân cư thưa thớt. Năm 1895 - 1896, đậu mùa, dịch tả lại hoành hành dữ dội ở Châu Đốc, làm nhiều người chết, dân phiêu tán các nơi càng đông. Sau vài năm mới trở về chỗ cũ lập lại xóm làng...

Tộc người và tôn giáo cũng là những vấn đề đáng chú ý trong lĩnh vực dân cư, dân số. Dân số và thành phần tộc người ở các tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc vào năm 1903 theo bảng thống kê sau đây giúp chúng ta rút ra một số nhận xét:

Dân tộc, ngoại kiều

Sa Đéc

Vĩnh Long

Long Xuyên

Châu Đốc

Dân số chung

182.924

132.286

143.680

145.194

Trong đó:Việt

179.793

130.000

143.680

108.034

Khơ-Me

22

1.212

-

28.847

Hoa

1.665

1.074

-

1.944

Chàm

-

-

-

4.459

Hoa kiều

2.308

-

-

1.861

Mã Lai

51

-

-

-

Ấn Độ

37

-

-

31

Pháp

48

-

-

-

  Trong bốn tỉnh giáp ranh Sa Đéc, Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc giáp ranh nhau, Sa Đéc là tỉnh có số dân cao nhất. Người Hoa và Hoa kiều ở đây cũng đông nhất (3.973 người). Người Khơ-me chỉ có vài chục người, đặc biệt có cả người Mã Lai và Ấn Độ, Pháp. Rõ ràng Sa Đéc là nơi tập trung dân cư đông đảo. Nơi đây là trung tâm kinh tế, thương mại (cả dịch vụ) của vùng giữa sông Tiền, sông Hậu, lên tới Nam Vang (Campuchia) nên số người Hoa và Hoa kiều nhiều. Người Hoa và Hoa kiều ở đây thạo nghề buôn bán, làm thủ công mỹ nghệ, một ít công nghiệp nhỏ và cả nghề nông nữa. Người Ấn Độ và Mã Lai đến đây để làm dịch vụ; cho vay; cất phố cho thuê bất động sản.v.v...

Đầu thế kỷ 20, giáo hội Thiên chúa giáo Pháp và Tây Ban Nha cũng đã tăng cường hoạt động ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1903 ở Sa Đéc đã có ba xứ đạo chính: Sa Đéc, Chợ Cồn, Long Hưng. Năm 1904 lại có thêm 5 xứ đạo mới: Phú Hựu, Tân Hựu, Hòa Long, Tân An, Bình Thành Trung. Vào năm 1904 - 1905, tín đồ Thiên Chúa giáo ở tỉnh Sa Đéc chiếm tới gần 1/10 dân số.

Mặt khác, từ cuối thế kỷ 19 sang những năm đầu thế kỷ 20, các phong trào kháng Pháp do nông dân và các sỹ phu yêu nước tiến hành lần lượt bị thất bại đã tạo nên một tâm lý bế tắc, thậm chí bi quan trong một bộ phận không nhỏ sỹ phu và nông dân. Trong bối cảnh ấy, Phật giáo và các đạo giáo khác dần dần phát triển trên mảnh đất miền Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu  Long nói riêng với nhiều màu sắc, hình thức khác nhau. Có những nhà sư, “ông Đạo” vốn là lãnh tụ nghĩa quân, người yêu nước và tôn giáo như một hình thức tập hợp quần chúng yêu nước ngấm ngầm đợi thời cơ chống Pháp. Mặt khác, thực dân Pháp cũng dùng chính sách tôn giáo để thực hiện mục đích chia rẽ dân tộc để cai trị...

Vào những năm 1901 - 1905, tín đồ các tôn giáo ở ba tỉnh Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc theo thống kê của thực dân Pháp như sau

 

 

Tỉnh

Phật giáo

Thiên chúa giáo

Hồi giáo

Sa Đéc

30.759

17.475

-

Long Xuyên

-

16.617

-

Châu Đốc

30.000

-

4.459 (Chăm)

  Tình hình dân số, dân tộc ở tỉnh Sa Đéc những năm 1903-1930 như sau:

Năm

Tổng số dân

Việt

Khơ me

Hoa

Hoa kiều

Chăm Mã lai

Ấn Độ

Pháp

Pháp lai Việt

1903

182.924

179.793

22

1.665

2.308

51

37

48

-

1914

168.617

166.686

-

-

1.899

-

14

48

-

1922

203.578

198.328

17

1.918

3.248

8

22

43

03

1925

205.565

199.319

-

3.481

2.694

13

25

33

-

1926

206.760

201.777

-

2.980

2.003

-

-

-

-

Trong chiến tranh thế giới lần I (1914-1918), thực dân Pháp đem ghép Sa Đéc vào Vĩnh Long, về danh nghĩa gọi là “quận” (Circoneription), về mặt hành chính thì coi như một tỉnh nhỏ, do vậy con số thống kê dân số bị tụt hẳn so với trước. Sau đó, Sa Đéc phục hồi trở lại thành tỉnh, dân số tăng lên trên 200.000 người.

Cho đến năm 1945, số dân của tỉnh sa Đéc ước khoảng 230.000 người. Nếu kể luôn phần phía bắc sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp ngày nay (tức một phần của Long Xuyên, Châu Đốc) thì dân số lên đến khoảng 260.000 người. Địa bàn cư trú so với những năm đầu thế kỷ đã trải rộng hơn. Vùng sâu phía nam sông Tiền, cặp sông Hậu đã đi vào khai thác tương đối ổn định (trải từ Vàm Cống cho đến Phong Hòa, Định Hòa). Phía bắc sông Tiền, Đồng Tháp Mười cũng được khai hoang, lấn dần vào theo các con rạch Sở Thượng, Sở Hạ, Ba Răng, Phong Mỹ, Cần Lố.v.v...

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: