trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Công tác điều động dân cư, phân bố lao động

+ Giai đoạn 1976 - 1985.

 - Thời đoạn 1976 - 1980[1]:

 Sau năm 1975, ở Đồng Tháp, hàng vạn người (trong đó có 20.000 người của thị xã Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc) trở về quê cũ và được trang trải hàng ngàn ha ruộng đất. Quần chúng tương trợ, giúp đỡ nhau làm ăn dưới nhiều hình thức: vạn vần đổi công, tổ hợp sản xuất...Từ đó, đời sống nhân dân tạm ổn định, từng bước khắc phục những khó khăn ban đầu.

Tuy nhiên, Đồng Tháp (nhất là vùng Đồng Tháp Mười) đứng trước sự đe dọa của nạn đói, Trung ương phải chi viện 8.000 tấn lương thực vì nạn thất nghiệp, vì gánh vác đùm bọc thêm 80.000 kiều bào tay trắng. Rồi lũ lụt năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam khiến hàng vạn dân thường ở 6 xã biên giới của huyện Hồng Ngự lâm vào cảnh chết chóc, ruộng vườn bỏ hoang...

Thực tế từ năm 1976-1980, Đồng Tháp đã đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới (KTM) suýt soát con số của năm 1978 (trên 30.000 nhân khẩu), tổ chức được 50 tập đoàn sản xuất, từng bước bà con đã ổn định tương đối cuộc sống, phát triển sản xuất, không những giảm bớt một phần cứu trợ mà còn đóng góp thêm nghĩa vụ với nhà nước.

Tính đến cuối năm 1980, bàn giao được 5 cụm dân cư ổn định cho chính quyền địa phương quản lý, gồm 1.500 hộ với 9.000 nhân khẩu..

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số tồn đọng:

+ Trước hết là việc khảo sát, qui hoạch, chuẩn bị bước đầu chưa được chu đáo.

+ Đưa dân vô vùng KTM không tập trung theo từng trọng điểm mà ồ ạt trong lúc cơ sở vật chất thiếu thốn. Cụ thể, sau năm 1975, bà con Việt kiều ở Campuchia bị chính quyền phản động Pôn-Pốt khủng bố, họ đồng loạt trở về nước, số này được tỉnh bố trí xây dựng vùng KTM luôn.

+ Khi thực hiện, chưa tổ chức đưa lao động đi trước để cải tạo cơ sở vật chất ban đầu, cộng với việc chuẩn bị lương thực, vật tư không đồng bộ...

Tất cả những lý do trên đã làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của bà con. Cho nên, có hơn 1.500 hộ bỏ ra vùng ngoài và đi nơi khác làm ăn sinh sống.

- Thời đoạn 1980 - 1985[2]:

Thời đoạn này các nông trường quốc doanh coi như là “những ngọn cờ đầu”.

Từ 1981-1983, kể cả ba nông trường cũ thì toàn vùng Đồng Tháp Mười xây dựng được 10 nông trường quốc doanh với tổng diện tích là 51.800 ha.

Sáu vùng KTM và một số vùng xen ghép tập thể có sức nhân dân lớn như Tứ Thường (Hồng Ngự), Ba Sao (Cao Lãnh), Mỹ Qúi, Mỹ Đông (Tháp Mười).

Từ năm 1981 trở đi, được sự chỉ đạo chặt chẽ của thường trực UBND Tỉnh, đồng thời Trung ương cấp vốn hỗ trợ giúp bà con các tập đoàn sản xuất vùng KTM như: đầu tư làm qui hoạch, làm thủy lợi, khai hoang, vay vốn mua sắm phân bón kịp thời vụ. Nhờ vậy đã chuyển vụ, tăng diện tích Đông Xuân lên 800 ha, khắc phục tình trạng thiếu ăn (nhà nước khỏi lo cứu trợ). Ngược lại vùng KTM thực hiện đầy đủ lúa nghĩa vụ, cả lúa hai chiều, đóng lúa thuế, bán lúa dư...

Về dân cư (qua 4 năm 1982-1985), điều động 2.365 hộ, với 5.058 lao động và 12.047 khẩu. Có khoảng 30 hộ bỏ đi nơi khác (chiếm 12,68%0. Nâng tổng số người đến vùng KTM lên 40.388 người (1977-1985), diện tích phục hóa, khai hoang: 44.479 ha (riêng giai đoạn 1981-1985: 14.702 ha) và thành lập được 872 tập đoàn sản xuất. Chưa kể các đơn vị “Thanh niên xây dựng kinh tế” vào khai hoang Đồng Tháp Mười.

+ Giai đoạn 1986 - 1995:

- Thời đoạn 1986 - 1990: Trong thời đoạn này, toàn tỉnh đã điều động được 6.724 hộ, 15.688 lao động, 28.102 nhân khẩu vào xây dựng vùng KTM. Thành lập được 6 vùng KTM và 4 nông trường, đã xây dựng được 27 công trình bao gồm: trường học, trạm xá, nhà hộ sinh, nhà văn hóa, cửa hàng, trụ sở UBND xã, nhà cửa, xuồng... bằng nguồn kinh phí của trung ương, tỉnh, huyện.

Đầu năm 1987 rút kinh nghiệm từ thực tiễn, Trung ương và tỉnh cùng nỗ lực đầu tư vào chương trình khai thác Đồng Tháp Mười, xem thủy lợi là công tác trọng tâm, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp. Nhờ đó, diện tích khai hoang, phục hóa tăng trở lại, đưa diện tích nông nghiệp lên 244.926 ha (1980: 221.192 ha). Các vùng KTM và nông trường đã tăng năng suất lúa từ 2 tấn/ha lên 4-5 tấn/ha. Nhân dân mới đến đã có cuộc sống ổn định, có người thu nhập cao từ 0,8 tấn/hộ (1984) lên 2 tấn/hộ (1998).

Cùng với cây lúa, nhiều địa phương như vùng Tân Phú (huyện Châu Thành), nông trường Giồng Găng (huyện Tân Hồng), nông trường Gáo Giồng (huyện Cao Lãnh)... còn trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, câu ăn trái như: khoai, mía, dưa hấu, chuối...Ngoài ra còn đầu tư trồng được 1.500 ha tràm, 3,4 triệu cây bạch đàn. Các ngành chăn nuôi và tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn này cũng tăng lên, làm bộ mặt của các vùng KTM và nông trường thay đổi rõ nét[3].

 - Thời đoạn 1991 - 1996:    

* Về di dân xây dựng vùng kinh tế mới:

Năm 1991-1992: công tác di dân vào các dự án KTM (cụ thể ở Đồng Tháp Mười có 3 dự án phát triển KT-XH được Trung ương đầu tư) còn theo hình thức xen ghép.

Từ năm 1992-1996: Trung ương, tỉnh tập trung đầu tư vào các dự án KTM, đã xây dựng nhiều công trình về giao thông, thủy lợi, phúc lợi công cộng, tạo điều kiện cho các hộ dân mới đến yên tâm sản xuất và có cuộc sống dần dần ổn định hơn.

Thời đoạn 1991-1996, đã tiếp nhận, bố trí được  2.991 hộ, 7.736 lao động, 13.798 nhân khẩu, trong đó:

+ Di dân trong tỉnh: 2.670 hộ, 6.918 lao động, 12.564 nhân khẩu.

+ Đón dân ngoài tỉnh: 321 hộ, 818 lao động, 1.234 nhân khẩu.

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản lên tới 50,04 tỷ (TW: 11,73 tỷ, tỉnh-huyện: 40.738.507.270 đồng, nhân dân: 1.575.000.000 đồng) trọng tâm xây dựng vẫn là các công trình trường học, trạm y tế, giao thông, thủy lợi...

Được nhà nước đầu tư thủy lợi kết hợp với kỹ thuật canh tác lúa trên đất phèn và kinh nghiệm của nhân dân nên đa số các hộ nhận đất sản xuất đều đạt năng suất từ 3 - 4 tấn/ha/vụ. Có nơi đạt 4-5 tấn/ha/vụ (trừ những vùng có độ phèn cao). Ngoài ra, hàng năm vào mùa nước, nguồn lợi thủy sản rất dồi dào cũng giúp bà con tăng thêm thu nhập. Theo điều tra sơ bộ, số hộ dân ở vùng KTM có 35% hộ khá, 31% hộ trung bình và 34 % hộ nghèo (hộ nghèo là do số con đông, thiếu vốn và kinh nghiệm sản xuất[4].

* Về chương trình giải quyết việc làm: Từ khi thực hiện nghị quyết 120 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ), tổng số dự án nâng lên 192 (trong đó có 44 dự án quay vòng) với tổng số tiền là 17.159.130.000 đồng, giải quyết việc làm cho 26.777 lượt lao động. Nhìn chung, việc sử dụng vốn đúng mục đích đã mang lại hiệu quả thiết thực, tăng thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống, tạo việc làm mới, tận dụng thời gian nông nhàn cho người lao động.

Ngoài ra Đồng Tháp có trên 400 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, thu hút gần 6.500 lao động có việc làm tập trung ở các ngành tỉnh như: chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp, cơ khí dịch vụ...

Riêng năm 1995, đã giải quyết được 13.650 lao động có việc làm, còn 55.00 lao động chưa có việc làm. Mỗi năm số này lại tăng thêm khoảng 2% .

 Mấy năm qua, tỉnh đã hình thành được 4 trung tâm dạy nghề thuộc Sở giáo dục đào tạo, Hội liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động, Sở lao động-thương binh-xã hội. Hàng năm đào tạo trên 1.200 lao động cho các nghề may, thêu, mộc[5].  

* Về chương trình xoá đói giảm nghèo: Tính đến năm 1995, Đồng Tháp có 9,67% hộ nghèo đói (trong đó có 1,4% hộ đói). Để giảm và đi đến xoá hẳn tỷ lệ hộ đói, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo, ngoài việc thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chính sách cứu trợ xã hội từ năm 1990, Tỉnh chỉ đạo các địa phương và cơ sở xây dưng chương trình xoá đói giảm nghèo. Nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: Giúp vốn và hướng dẫn cách làm ăn, cho mượn giống để sản xuất, vần đổi công cho nhau trong sản xuất và thu hoạch, hùn vốn để sắm phương tiện sản xuất. Đến nay, quỹ xoá đói giảm nghèo từ nguồn vốn ngân sách và vận động cả Tỉnh hơn 5,5 tỷ đồng, đã cho 10.485 hộ nghèo được vay vốn (trong đó có 2.000 hộ chính sách). Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đi 8% so với năm 1990 (bình quân mỗi năm giảm 2%)[6].

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: