trang mobile trang fb cong thong tin trang fb cong thong tin

ĐỊA CHÍ TỈNH ĐỒNG THÁP

Cỡ chữ : A- A A+
Giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo

+ Giai đoạn 1996 - 2005.      

a. Về lao động và việc làm.

- Thời đoạn 1996 - 2000:

1/ Tình hình chung:

Thời đoạn 1996 – 2000, tình hình kinh tế - xã hội của Đồng Tháp tiếp tục ổn định và phát triển theo hướng tích cực; tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm vẫn ở mức trên 7%, đời sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân trong tỉnh được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng và các hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản vẫn không ngừng phát triển …

Tuy nhiên vì xuất phát là tỉnh nông nghiệp, nên các ngành nghề thu hút nhiều lao động có phát triển nhưng còn chậm, thu nhập của cư dân không đồng đều, lại thường xuyên bi ảnh hưởng của thiên tai và lũ lụt …

2/ Kết quả:

 * Về chương trình việc làm và đào tạo nghề: Giải quyết việc làm mới và việc làm thêm cho gần 30.000 lao động. trong đó giải quyết việc làm theo Nghị quyết 120 là trên 10.000 người. Từ đó đã góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị từ 2,74% năm 1996 xuống còn 2,4% năm 1999 và đến cuối năm 2000 còn 2%; tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn năm 1996 là 58% đến năm 1998 là 65% và ước thực hiện đến cuối năm 2000 tỷ lệ này là 70%.

 * Về chương trình quản lý đào tạo: Mặc dù ngành mới được Bộ và Tỉnh giao nhiệm vụ kể từ tháng 4/1999, qua thống kê, theo dõi và tính toán thì tỷ lệ lao động được đào tạo năm 1995 khoảng 7%, trong đó đào tạo nghề là 2,2%. Tỷ lệ số người được đào tạo và đào tạo nghề hàng năm tăng lên bình quân từ 1-2% và đặc biệt kể từ đầu năm 1999, sau khi có sự quan tâm xây dựng qui hoạch mạng lưới đào tạo nghề trong tỉnh cùng với sự đầu tư về kinh phí của địa phương và Tung ương thì số người được đào tạo nghề đã nâng lên rõ rệt và chiếm 5,7% số lao động trong tỉnh.

* Chương trình xóa đói giảm nghèo: Đã giảm tỷ lệ đói – nghèo năm 1995 là 16,94% xuống còn 12,54% vào năm 1999 và dự kiến còn 10% vào cuối năm 2000. Với mục tiêu xóa 22 xã nghèo, năm 1999 tỉnh đã đầu tư trên 16,5 tỷ đồng để xóa 09 xã và dự kiến đầu tư trên 24 tỷ đồng để xóa 13 xã còn lại vào cuối năm 2000[1].

- Thời đoạn 2001 - 2005:

1/ Tình hình kinh tế - xã hội:

Trong tình hình chung của đất nước, Đồng Tháp cũng đã ổn định, phát triển mọi mặt (về mức thu nhập, về lương thực, về trình độ dân trí, về hệ thống trường lớp, về sức khoẻ của nhân dân). Các chương trình kinh tế luôn đi song song cùng chương trình xã hội. Việc đầu tư kinh tế luôn được chú trọng, nhất là vùng sâu điều kiện còn thiếu thốn, khó khăn cả vật chất tinh thần. Từ đó, đã tạo bước phát triển tương đối đồng đều giữa thành thị, nông thôn. Cuộc sống nhân dân đang đi dần vào thế ổn định và cải thiện. Các chương trình Quốc gia về xã hội được thực hiện đã tác động sâu sắc đến sự thay đổi vùng nông thôn, đô thị hóa phát triển nhanh.

Tuy nhiên, tỉnh nhà vẫn là một trong những tỉnh nghèo trong khu vực Đồng bằng Nam bộ. Những yếu tố đảm bảo cho sự tăng trưởng chưa thật vững chắc, trên 80% cư dân là nông dân gắn liền sản xuất cây lúa, đời sống kinh tế phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Tăng trưởng nông nghiệp còn thấp.

Tình trạng nghèo, thất nghiệp và nhiều vấn đề xã hội còn gay gắt, cả tỉnh còn 55.744 hộ nghèo, chiếm khoảng 16,81% (theo số liệu 02/2001).

Tỷ lệ thất nghiệp chưa có việc làm hoặc có việc làm chưa ổn định còn cao và có chiều hướng gia tăng.

Năm 1.999 có 40.415 người thiếu việc làm thường xuyên, lại có đến 86,90% dân số trong độ tuổi 14 - 44.

Mặt trái của cơ chế thị trường có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh như: sự phân hóa giàu nghèo, sự cách biệt thành thị với nông thôn, vùng lao động giản đơn với lao động có tay nghề, vấn đề nhà ở, môi trường, tài nguyên, tệ nạn xã hội, sự suy thoái về đạo đức và lối sống đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống[2].

2/ Kết quả:

 * Công tác lao động - việc làm: Năm năm qua, toàn tỉnh đã huy động được 686.382 người tham gia lao động công ích.

Đồng thời tạo nguồn vốn vay hỗ trợ tạo việc làm từ chương trình mục tiêu quốc gia, đã được UBND tỉnh duyệt năm 2005 là: 25 tỷ đồng (trong đó vốn thu hồi 22 tỷ, vốn mới bổ sung 3 tỷ đồng). Đến nay, đã tổ chức xét duyệt và giải ngân cho  191 dự án, với tổng số vốn vay 22,344 tỷ đồng cho 3.213 hộ vay, giải quyết việc làm cho 9.258 lao động, tỷ lệ vốn vay trong năm đạt 89,4%.

Tổng số lao động được giải quyết việc làm trong 5 năm qua là 191.908 người, đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị từ 3,02% năm 2001 xuống còn 2,88% năm 2005, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn từ 75,33 lên 81,58% (tương ứng số ngày công làm việc thực tế của một lao động nông thôn 249 ngày/năm).

* Công tác xuất khẩu lao động: Tính chung trong 4 năm qua đã có 4.137 lao động được đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Cùng với những giải pháp tạo việc làm trên, công tác tư vấn, giới thiệu việc làm ở các Trung tâm Dịch vụ việc làm, các huyện thị luôn được tiếp tục thực hiện. Do vậy, năm 2005 đã giải quyết cho 47.126/40.000 lao động có việc làm mới và việc làm thêm, vượt 18% so kế hoạch.

* Công tác xóa đói giảm nghèo: Kết quả điều tra năm 2005, cho thấy: tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn cũ còn 2,22%, tỷ lệ theo chuẩn mới còn 13,59%, tương đương 47.342 hộ. Như vậy trong giai đoạn 2001 – 2005 tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm là 2,49%/năm (từ 14,69% đầu năm 2001 xuống còn 2,22% năm 2005).

* Công tác quản lý đào tạo nghề:. Từ năm 2001-2005, công tác dạy nghề đã tăng đáng kể, với trên 89.000 người được đào tạo nghề; tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đã được nâng lên 21%, trong đó qua đào tạo nghề là 17,6%[3].

b. Về di dân xây dựng vùng kinh tế mới (giai đoạn 1996 - 2005).

1/ Thực trạng và đặc điểm dự án di dân xây dựng vùng kinh tế mới:

Như ta đã biết, năm 1990, toàn tỉnh còn diện tích đất có khả năng sản xuất nông nghiệp 29.050 ha, đất trống trong bờ bao lâm trường quốc doanh 5.718 ha và đất một vụ lúa bấp bênh là 36.160 ha.

Nhằm khai thác hết vùng đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, năm 1990 Tỉnh Đồng Tháp kết hợp với Viện qui hoạch thiết kế nông nghiệp Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn), đã lập 3 dự án kinh tế mới để phát triển kinh tế - xã hội của 3 khu vực: Dự án kinh tế mới khu vực I huyện Tân Hồng, dự án kinh tế mới khu vực II huyện Thanh Bình – Tam Nông, dự án kinh tế mới khu vực III huyện Cao Lãnh – Tháp Mười. Trong giai đoạn 1991 – 1995, 3 dự án chưa được các ngành Trung Ương phê duyệt. Vì vậy, các dự án đi vào hoạt động với nguồn vốn khởi động ban đầu không đáng kể, chủ yếu là vốn ngân sách địa phương và vốn dân. Trung ương đầu tư vào dự án thông qua chương trình số 116/HĐBT về quản lý công tác phân bố lao động dân cư và xây dựng kinh tế mới, sau đó là đầu tư theo chương trình 327/TTg của Thủ tướng chính phủ.

Năm 1996, tỉnh Đồng Tháp hiệu chỉnh lại 3 dự án trên được TW phê duyệt và chính thức đầu tư theo mục tiêu cụ thể giai đoạn 1996-2000, sau đó, được TW phê duyệt kéo dài thời gian đầu tư cho giai đoạn 2001-2005 từ nguồn vốn chương trình 773/TTg và sau là chương trình mục tiêu quốc gia.

Năm 1999, tỉnh Đồng Tháp lập dự án kinh tế mới khu vực IV huyện Hồng Ngự - Tân Hồng và được TW phê duyệt đầu tư theo mục tiêu của dự án trong giai đoạn 1999-2005 từ nguồn vốn chương trình 773/TTg và sau là chương trình mục tiêu quốc gia[4].

2/ Kết quả thực hiện dự án kinh tế mới từ năm 1996 đến năm 2005:

 * Kết quả thực hiện di dân:

Công tác di dân từ đầu năm 1996 đến năm 2005 đạt được 17.173 hộ, 74.785 nhân khẩu.Trong đó: Di dân nội tỉnh 16.996 hộ, 74.151 nhân khẩu; di dân ngoài tỉnh 177 hộ, 634 nhân khẩu. Cụ thể phân theo đối tượng di dân như sau:

 - Di dân do ảnh hưởng thiên tai là: 14.397 hộ, 62.401 nhân khẩu, trong đó

  + Di dân do sạt lở bờ sông: 5.458 hộ, 25.024 nhân khẩu.

  + Di dân do thường xuyên bị ảnh hưởng lũ lụt vào cụm, tuyến dân cư 8.939 hộ, 37.377 nhân khẩu.

 - Di dân vào vùng dự án kinh tế mới: 2.703 hộ, 12.110 nhân khẩu.

 - Di dân ra biên giới: 73 hộ, 274 nhân khẩu.

*  Kết quả khai hoang, phục hoá đưa vào sản xuất:

Từ năm 1991-2005, khai hoang được 13.254 ha(1996-2005: 3.583 ha) và đã đưa được số diện tích này vào sản xuất: lúa (9.589 ha), cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày (42 ha), cây ăn quả (19,5 ha), nuôi trồng thủy sản (11,6 ha), trồng rừng (chủ yếu là bạch đàn - 63,869 ha).

Tuy nhiên hiện nay, trong vùng dự án KTM vẫn còn khoảng 15.000 ha chỉ làm được một vụ lúa  với năng suất rất bấp bênh, cần phải tiếp tục đầu tư, đặc biệt là khâu thủy lợi để chuyển lên 2 vụ lúa ăn chắc.

*  Kết quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

Ước tổng kinh phí đã đầu tư vào vùng dự án KTM là 219.805,881 triệu đồng. Trong đó, vốn ngân sách đầu tư thông qua dự án KTM 47.087, 595 triệu đồng, vốn ngân sách đầu tư lồng ghép qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và nhân dân đóng góp 240.332,384 triệu đồng.

Chia ra như sau: đầu tư công trình giao thông: 48.178,307 triệu đồng; thủy lợi: 57.700,167 triệu đồng; công trình phúc lợi xã hội (trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt): 113.927,407 triệu đồng.

* Tình hình sản xuất và đời sống dân cư:

 -  Nông nghiệp:

+ Cây lúa: Tổng diện tích  gieo trồng lúa cả năm ở các vùng dự án KTM hiện nay là 172.092 ha , tổng sản lượng đạt 986.265 tấn.

+ Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: DT: 2.557 ha, SL: 19.177 tấn.

+ Cây ăn quả: chủ yếu là trồng cây xoài, cây cam, quýt , nhản … DT:285 ha (chiếm 0,01% cây ăn quả toàn tỉnh), SL:10.277 tấn..

+ Nuôi trồng thủy sản:

Hàng năm trong vùng dự án việc đánh bắt thủy sản tự nhiên ước tính 11.667,02 tấn/năm.

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trong vùng dự án hiện nay là 819 ha, giá trị sản lượng đạt 387.761 triệu đồng[5].

+ Cây lâm nghiệp:

Tổng diện tích rừng trong vùng có 9.677,996 ha, trong đó cây tràm 9.614,127 ha, cây bạch đàn 63.869 ha.

-  Đời sống dân cư:

Đến cuối năm 2004, dân số trong toàn vùng dự án có 231.167 người, tăng 52.682 người so với năm 1996 và tăng 107.641 người so với năm 1991, trung bình 188 người/ km2. Việc đầu tư thông qua các dự án KTM trong thời gian qua mang lại hiệu quả rất lớn, đáng kể nhất là hộ nghèo trong vùng dự án giảm dần từng năm như: năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo là 24,32%, năm 2001 giảm xuống còn 18,74%, năm 2002 giảm còn 15,92%, năm 2003 còn 12,97% và đến năm 2004 ước còn 6,7%. Bên cạnh đó, hộ giàu và khá cũng tăng. Năm 2004, tổng số hộ toàn vùng là 56.935 thì hộ giàu khoảng 19%, hộ trung bình và khá 74,30%. Mức thu nhập trung bình của hộ giàu là >12.000 triệu đồng/ năm và thu nhập trung bình của hộ trung bình khá là 5,5 triệu / năm .

Nguồn thu nhập chính của người dân chủ yếu là nông nghiệp chiếm 92% và dịch vụ chiếm 8%. Người có thu nhập giàu khá, đa số là có đất sản xuất từ 3 ha trở lên, còn lại là những hộ trung bình và nghèo ít đất sản xuất hoặc không đất sản xuất, phải đi làm thuê hoặc đánh bắt thủy sản vào mùa lũ. Như vậy, hộ thoát nghèo chưa thật bền vững, cuộc sống còn rất khó khăn, mức thu nhập hiện nay của các hộ này chỉ trên ngưỡng chuẩn các hộ nghèo không lớn. Do đó, nếu có thay đổi tăng mức chuẩn, hộ nghèo mới sẽ tái nghèo trở lại. Chính vì thế trong thời gian tới, nhà nước cần quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa để người dân vùng dự án KTM thoát nghèo thật sự bền vững so với các vùng lân cận[6].

Giới thiệu Cổng Thông tin | Quảng cáo | Sơ đồ
Đơn vị quản lý: Văn phòng UBND Tỉnh
Trụ sở: số 12, đường 30/4, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 0277.3851431 - 0277.3853744, Fax: 0277.3851615, Email: banbientap@dongthap.gov.vn
Số lượt truy cập: