Là nền kinh tế có quymô đứng thứ 6 và kim ngạch ngoại thương đứng thứ 4 trong ASEAN, Việt Nam đangđóng vai trò ngày càng quan trọng trong tiến trình hợp tác khu vực. Thời giantới, Việt Nam đặt mục tiêu ra khỏi nhóm các nước kém phát triển hơn trong ASEANđể gia nhập vào nhóm các thành viên dẫn đầu về năng lực cạnh tranh.
Là nền kinh tế có quymô đứng thứ 6 và kim ngạch ngoại thương đứng thứ 4 trong ASEAN, Việt Nam đangđóng vai trò ngày càng quan trọng trong tiến trình hợp tác khu vực. Thời giantới, Việt Nam đặt mục tiêu ra khỏi nhóm các nước kém phát triển hơn trong ASEANđể gia nhập vào nhóm các thành viên dẫn đầu về năng lực cạnh tranh.
Tổng quan về Cộng đồngKinh tế ASEAN (AEC)
ASEANlà một thị trường rộng lớn với dân số hơn 600 triệu người, tổng thu nhập quốcnội (GDP) năm 2014 ước đạt 2.500 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nămkhoảng 1.000 tỷ USD.
Năm1992, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực Thương mại tự doASEAN (AFTA) với mục tiêu xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa cácnước thành viên ASEAN. Sau khi trở thành thành viên ASEAN vào năm 1995, ViệtNam đã ký hiệp định tham gia AFTA từ 1998. Thực hiện các cam kết theo AFTA, tớingày 01 tháng 01 năm 2010, 6 nước thành viên cũ ASEAN đã cơ bản hoàn thành lộtrình tự do hóa thương mại với việc xóa bỏ thuế quan đối với 99,65% số dòngthuế. 4 nước thành viên mới gồm Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam cũng đã đưaphần lớn số dòng thuế về mức 0-5%. Đây là kết quả nổi bật và là dấu mốc quantrọng trong hợp tác ASEAN.
Trênđà những thành tựu đã đạt được từ AFTA, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8tại Phnôm Pênh vào tháng 11 năm 2002, Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đã đưara sáng kiến thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN và được sự ủng hộ của các nướcthành viên. Qua nhiều vòng thảo luận, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 (tháng01 năm 2007 tại Philippines), các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Cebu vềviệc đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 trên ba trụ cột: kinh tế,chính trị - an ninh và văn hóa - xã hội, trong đó trụ cột kinh tế có vai tròtrọng tâm với tiêu chí hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Về bản chất,AEC được hiểu như một khuôn khổ hội nhập kinh tế với mức độ sâu sắc hơn giữa cácthành viên. Ranh giới các rào cản thương mại được dỡ bỏ, hàng hóa, dịch vụ, vốnvà lao động được tạo điều kiện lưu chuyển tự do hơn giữa các nước thành viên. Cácchính sách quản lý từng bước được hài hòa, chuẩn mực hóa để hình thành một khuvực kinh tế cạnh tranh. Khoảng cánh phát triển giữa các quốc gia thành viêntừng bước được thu hẹp. ASEAN, với vị thế một trong những khu vực kinh tế năng độngcó tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới sẽ tham gia đầy đủ và sâu sắc hơn vàochuỗi giá trị toàn cầu.
Sovới Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vốn chỉ dựa trên hai hiệp định tự do vềhàng hóa và dịch vụ, AEC sẽ có sự phát triển đáng kể về phạm vi và mức độ tự dohóa. Hàng hóa, dịch vụ, vốn, đầu tư và lao động kỹ năng sẽ được tạo điều kiệnlưu chuyển tự do hơn giữa 10 nước thành viên. ASEAN tiếp tục khẳng định vai tròtrung tâm trong các cấu trúc khu vực và hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới.Tiến trình hội nhập của ASEAN sau 2015 sẽ tiếp tục được thúc đẩy trên cơ sởnhững định hướng từ viễn cảnh của AEC nhằm hướng tới các mục tiêu cơ bản là:
Thứnhất, đưa ASEAN trở thành một cơ sở sản xuất và thị trường chung với sự lưuchuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động kỹ năng. Để đạt mụctiêu này, ASEAN sẽ tiếp tục đàm phán cáchiệp định tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư; hoàn thiện các khuôn khổ pháp lývề bảo hộ và thúc đẩy đầu tư; tạo thuận lợi cho sự di chuyển lao động kỹ năngthông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau.
Thứhai, phát triển cân bằng giữa các nước thành viên, thu hẹp khoảng cách pháttriển và thúc đẩy tiến trình hội nhập của Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và ViệtNam thông qua Sáng kiến Hội nhập ASEAN và các sáng kiến khu vực khác;
Thứba, nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế khu vực thông qua các giải pháptạo thuận lợi phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), thuận lợi hóa thươngmại (Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách quy tắc xuất xứ,…), hài hòa tiêu chuẩn, hàngrào kỹ thuật đối với thương mại...
Thứtư, đưa kinh tế ASEAN hội nhập đầy đủ và sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầutrên cơ sở tham gia của ASEAN vào các cấu trúc kinh tế khu vực và chuỗi cungứng toàn cầu.
AEC -trụ cột chính trong cấu trúc Cộng đồng ASEAN
Việchình thành AEC đưa hợp tác và đoàn kết ASEAN lên một tầm cao mới, khẳng định ýchí và nguyện vọng của các quốc gia thành viên trong việc tăng cường sức mạnhcủa khu vực, nhằm đối phó với những thách thức an ninh, chính trị và kinh tếtrong Thiên niên kỷ mới. Trong một khu vực kinh tế phát triển năng động, có mặtnhiều cường quốc, đang tồn tại những bất đồng và tranh chấp lãnh thổ,… việccủng cố liên kết giữa 10 nước thành viên là một nhân tố có ý nghĩa hàng đầu đốivới duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực cũng như tăng cường vịthế của mỗi quốc gia.
Làcác quốc gia láng giềng, chia xẻ sự gần gũi về địa lý, những yếu tố tương đồngnhất định về lịch sử, văn hóa, truyền thống… nhưng 10 nước ASEAN cũng hết sức đadạng và khác biệt về thể chế chính trị, tôn giáo, quy mô thị trường, trình độphát triển… Đa phần là các nền kinh tế đang phát triển với quy mô nhỏ và trungbình, lại tồn tại trong một khu vực giao thoa ảnh hưởng của nhiều nước lớn,trong một chừng mực nhất định, chính sách đối ngoại, thương mại của các thànhviên bị tác động bởi các yếu tố địa chính trị. Trong nhiều vấn đề kinh tế, chínhtrị quan trọng của khu vực, việc tìm tiếng nói đồng thuận trong ASEAN không đơngiản. Bởi mỗi thành viên có những định hướng riêng trong quan hệ với các cườngquốc phù hợp với mục tiêu chiến lược của mình, xuất phát từ các quan hệ truyềnthống, lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia thành viên ASEAN đều ý thức rõvai trò của liên kết ASEAN đối với việc tăng cường vị thế quốc tế của mình,cũng như tầm quan trọng của việc thiết lập một thị trường chung đối với việccải thiện tiềm lực kinh tế khu vực. AEC là sợi dây gắn kết 10 quốc gia ASEANbắt nguồn những lợi ích kinh tế hội nhập khu vực đem lại cho mỗi thành viên. Trêncon đường tiến tới các mô hình hội nhập cấp độ cao hơn về tài chính, an ninh,chính trị, hợp tác kinh tế được coi là trụ cột bởi đó là tiền đề tạo nền tảngmở rộng quan hệ hợp tác sang các lĩnh vực an ninh, chính trị, văn hóa và xãhội.
Hiệnnay, ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và Liênminh Châu Âu). Trong vòng 5 năm trở lại đây, tăng trưởng trung bình xuất khẩu vànhập khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt tương ứng khoảng 23% và 19%.
Những tác động củaAEC tới khu vực và Việt Nam
AECđược hình thành sẽ mang lại những cơ hội to lớn cho các nước thành viên ASEANnhờ khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực khu vực, tăng cường khả năng thu hút đầutư và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hàng rào thuế quan giữa các quốc giađược loại bỏ, các hàng rào phi thuế ngày càng hạn chế, hạ tầng giữa các nước đượckết nối thuận tiện, thủ tục xuất nhập khẩu được điện tử hóa và hài hòa quachương trình Một cửa ASEAN… sẽ tạo ra một thị trường chung với những cơ hộithương mại tiềm tàng cho các doanh nghiệp. Thị trường khu vực liên kết tạo điềukiện để các doanh nghiệp phát triển sản xuất quy mô và mở rộng thị trường ra cácnước lân cận. Các doanh nghiệp sản xuất cũng sẽ có thêm cơ hội cắt giảm chi phíđầu vào để hạ giá thành sản phẩm và thuận lợi hơn trong đầu tư đổi mới côngnghệ… Hội nhập khu vực tạo tiền đề và đồng thời sức ép cải cách lên các doanhnghiệp. Bởi để tận dụng các cơ hội này, các doanh nghiệp phải hình thành tư duykinh doanh khu vực với các biện pháp quản trị phù hợp chuẩn mực quốc tế.
Tronglĩnh vực đầu tư, thị trường quy mô lớn hơn cùng với những cải thiện môi trường đầutư thông qua Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) sẽ làm tăng tính hấp dẫncủa thị trường ASEAN đối với các nhà đầu tư trong khối cũng như từ các nước đốitác. Khu vực đầu tư ASEAN sẽ có sức cạnh tranh hơn so với các nền kinh tế đangphát triển trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cạnh tranh nội khốitrong thu hút FDI sẽ có xu hướng tăng lên. Bởi trong thị trường nhất thể hóa,quyết định đầu tư của nhà đầu tư sẽ không phụ thuộc vào các chính sách bảo hộcủa nước tiếp nhận mà sẽ phụ thuộc vào nơi nào có hệ thống chính sách minhbạch, lao động cạnh tranh, hạ tầng thuận tiện. Không loại trừ xu hướng các tập đoànđa quốc gia sẽ tái cơ cấu lại các khoản đầu tư trong khu vực ASEAN để tập trungvề một cơ sở có hiệu quả nhất tại một quốc gia nhằm khai thác lợi thế từ sảnxuất quy mô.
Từngbước tự do hóa thị trường lao động chuyên môn cho phép các quốc gia ASEAN tậndụng hiệu quả hơn các nguồn lực khu vực. Hiện các bên đã ký kết 9 gói cam kếtvề mở cửa thị trường dịch vụ và 8 hiệp định về công nhận chứng chỉ hành nghềcủa nhau trong các lĩnh vực: kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, ytá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Các thỏa thuận này sẽ tạo cơ hộithuận lợi hơn cho lao động có tay nghề lưu chuyển trong khu vực. Trong bối cảnhlao động không có chuyên môn kỹ thuật của nước ta chiếm tới 85% lực lượng lao độngcả nước, nguồn lực từ các nước láng giềng ASEAN sẽ giúp chúng ta khắc phục phầnnào nhu cầu trước mắt về lao động chất lượng cao trong tiến trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa. Về lâu dài, cần cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục và sắp xếp lạihệ thống đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực có năng lực, kỹnăng.
Việctăng cường sự tham gia của ASEAN, với tư cách một khối, vào tiến trình toàn cầuhóa sẽ tăng cường vị thế đàm phán của từng thành viên, tạo cơ hội cho các quốcgia tham gia hiệu quả hơn vào phân công lao động toàn cầu. Các doanh nghiệp sẽcó cơ hội tiếp cận các thị trường lớn, nhiều tiềm năng như Trung Quốc, HànQuốc, Nhật Bản, Ô-xtơ-rây-li-a, Niu Di-lân và Ấn Độ thông qua các FTA giữaASEAN và đối tác với vai trò trung tâm của ASEAN.
Tuynhiên, với những gì đã đạt được qua 20 năm xây dựng khu vực mậu dịch tự do, cácnước thành viên còn phải nỗ lực rất nhiều để có thể đạt tới những mục tiêu nhưkỳ vọng. Đây là thách thức không nhỏ xét tới sự đa dạng của các quốc gia thànhviên. Bên cạnh sự đa dạng về văn hóa, thể chế chính trị, tôn giáo,... sự khácbiệt về trình độ phát triển, chính sách thương mại… là những trở ngại chính đểASEAN hài hòa thể chế kinh tế, thiết lập một chính sách thương mại chung đốivới các đối tác ngoài khối như mô hình Liên minh Thuế quan.
Viễn cảnh
AEClà một bước phát triển trong tiến trình liên kết khu vực của ASEAN. AEC kế thừanhững thành tựu tự do hóa thương mại trong khuôn khổ AFTA và tiếp tục hướng tớicác cấp độ liên kết cao hơn giữa các thành viên trong tương lai. Điều này cónghĩa những giá trị cũng như các thách thức đối với hợp tác khu vực Đông Nam Ávẫn có ý nghĩa và mang tính thời sự. Những thành tựu từ phát triển hợp tácASEAN trong những năm qua là kinh nghiệm quý báu cho các nước thành viên nóichung và Việt Nam nói riêng triển khai các chính sách phù hợp để tận dụng cơhội và vượt qua thách thức.
Tuynhiên, để đạt tới những mục tiêu đã đề ra, AEC cần rất nhiều nỗ lực từ các quốcgia thành viên. Về lý thuyết, Cộng đồng kinh tế là mô hình liên kết khu vực ởcấp độ cao hơn nhiều so với Khu vực mậu dịch tự do. Trong đó, các quốc gia đạt đếnmức độ tự do hóa gần như hoàn toàn thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư. Chínhsách thương mại được hài hòa và nhất thể hóa. Các quốc gia thực hiện một chínhsách thương mại chung với các quốc gia ngoài khối. Tiêu biểu là Cộng đồng Châu Âucủa các nước Tây Âu, Cộng đồng Kinh tế Á – Âu của 3 nước Liên – xô cũ gồm Nga,Be-la-ru-xia và Ka-zac-tan,… Trên thực tế, AEC hiện nay mới chỉ là một khu vựcmậu dịch tự do chứ chưa phải là một cộng đồng kinh tế theo đúng nghĩa của thuậtngữ này. AEC sẽ đạt được mục tiêu hình thành thị trường tự do về hàng hóa vào2018 sau khi bốn nước thành viên mới hoàn thành loại bỏ hoàn toàn thuế quan.Nhưng mục tiêu tự do hóa hoàn toàn thị trường dịch vụ và đầu tư còn nhiều tháchthức với ASEAN. Đặc biệt, mục tiêu hài hòa và nhất thể hóa chính sách thươngmại còn rất xa bắt nguồn từ sự đa dạng về cơ cấu kinh tế và trình độ pháttriển. Các nước trình độ phát triển cao hơn trong ASEAN như Singapore, Malaysiacó chính sách thương mại khá cởi mở, thông thoáng. Trong khi các nước trình độphát triển thấp bao gồm Việt Nam, hiện còn phải duy trì nhiều công cụ bảo hộ đểhỗ trợ các ngành sản xuất còn hạn chế năng lực cạnh tranh. Trong tương lai gần,ASEAN ít có khả năng hài hòa chính sách để thực thi một chính sách thương mạichung đối với các đối tác ngoài khối.
Việcchưa thống nhất được một chính sách thương mại chung của khối khiến mỗi quốcgia thực hiện một chính sách thương mại riêng với các đối tác thương mại ngoàikhối. Một số thành viên theo quan điểm tự do thương mại đã tích cực tìm kiếm cáccơ hội phát triển thị trường thông qua các khuôn khổ hợp tác với các đối tácngoài khối. Trong chừng mực nhất định, sự đa dạng các định hướng hợp tác khiếncác thành viên phân tán nguồn lực cũng như sự tập trung cho tiến trình hội nhậpkinh tế nội khối. Đó là một trong những yếu tố khiến nhiều biện pháp trong lộtrình AEC bị chậm so với tiến độ.
Tích cực, chủ độngtham gia AEC
Bêncạnh tăng trưởng về giá trị, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN có sựchuyển biến tích cực. Bên cạnh các mặt hàng nông sản truyền thống, nguyên nhiênliệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô… các mặt hàng công nghiệp như linh kiện máytính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm chiếm tỷ trọng ngày càng tăng. ViệtNam và một số nước ASEAN khác là thành viên các câu lạc bộ các nước xuất khẩulớn về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may. ASEAN đồng thời là nhà đầutư lớn vào thì trường Việt Nam. Các dự án từ ASEAN nắm giữ sấp xỉ 20% tổngnguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Những thành viên ASEAN đầutư nhiều nhất vào Việt Nam là Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei.
Ngaytừ những năm đầu thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI, Việt Nam đã nhận thức tầm quan trọng của phát triển quan hệhợp tác với các nước láng giềng trong khu vực. Việc trở thành thành viên ASEANnăm 1995 là bước đi cụ thể hóa chủ trương này. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứXI, trên cơ sở đánh giá tình hình khu vực “ASEAN tiếp tục đẩy mạnh liên kết khuvực, xây dựng cộng đồng, có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, song cònnhiều khó khăn, thách thức” đã chủ trương “chủ động, tích cực và có trách nhiệmcùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh”.
Đểthực hiện chủ trương tham gia tích cực xây dựng AEC như đã được Đại hội Đảng XIthông qua, bên cạnh các giải pháp chung, nhằm nâng cao năng lực của nền kinhtế, cần tập trung triển khai một số công tác cụ thể sau:
Trướchết, cần đẩy mạnh và đổi mới công tác thông tin tuyên truyền để xã hội và ngườidân nắm bắt được những nội dung cơ bản của AEC cũng như ý nghĩa quan trọng củatiến trình này đối với khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Tình trạngthiếu thông tin và hạn chế nhận thức về AEC là thực tế đang tồn tại ở hầu hết cácnước ASEAN. Công tác thông tin, tuyên truyền trong thời gian tới cần phải đượccải thiện về chất để nâng cao hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thông tin của xãhội. Hình thức tuyên truyền phải đổi mới trên cơ sở tăng cường sử dụng các côngcụ truyền thông đại chúng. Bên cạnh các kênh thông tin chính thống cần khuyếnkhích sự tham gia nghiên cứu, phản biện... của các nhà khoa học, các hiệp hộidoanh nghiệp để tạo sự nhìn nhận khách quan, đa chiều đối với các cơ hội và tháchthức AEC.
Thứhai, nghiêm túc thực hiện các cam kết trong lộ trình đã đề ra để cùng các nướcthành viên hoàn thành mục tiêu AEC vào cuối năm. Đồng thời thể hiện vai trò thànhviên có trách nhiệm của ASEAN. Tới thời điểm này, Việt Nam là một trong 3 quốc giađã đạt tỷ lệ thực thi cao nhất các biện pháp trong lộ trình với tỷ lệ trung bìnhxấp xỉ 90%. Tuy nhiên, những biện pháp còn lại là những vấn đề khó khăn vớinhiều nước ASEAN trong đó có Việt Nam, liên quan các lĩnh vực giao thông vậntải, dịch vụ, đầu tư… Việc thực thi các biện pháp trong các lĩnh vực này đòihỏi việc phê chuẩn các văn kiện đã ký kết, xây dựng hành lang pháp lý cho việcthực thi, hài hòa các điều kiện về kỹ thuật, hạ tầng và giải quyết các vấn đềtrong nước. Bởi vậy, cần tăng cường vai trò điều phối Chính phủ nhằm triển khaihài hòa, đồng bộ các biện pháp trong nước và quốc tế.
Thứba, tích cực chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật và nguồn lực để tham gia cácchương trình, dự án tăng cường kết nối ASEAN về cả hạ tầng cứng (đường, cảng,năng lượng,…) và hạ tầng mềm (pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định hảiquan...). Mục tiêu của các chương trình kết nối ASEAN nhằm tạo thuận lợi choviệc lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, con người… và tăng cường sự gắn kết giữa cácnền kinh tế. Tiêu biểu là các dự án trọng điểm kết nối ASEAN bao gồm các dự ántrong khuôn khổ Hành lang kinh tế Đông – Tây kết nối miền Trung Việt Nam với Lào,Bắc Thái Lan và Myanmar, các đề án hợp tác Tiểu vùng Mê Kông, các thỏa thuận đốivới phương tiện vận chuyển và hàng quá cảnh, sáng kiến Một cửa ASEAN… Việctriển khai các dự án kết nối khu vực sẽ cho phép Việt Nam phát huy yếu tố vị tríđịa lý thuận lợi của mình, khai thác hiệu quả hơn các cơ hội từ thị trườngchung ASEAN. Bởi vậy, các cơ quan hữu quan của Việt Nam, tuỳ theo lĩnh vựcthuộc chức năng quản lý cần tiếp tục chủ động tham gia các dự án trong các lĩnhvực hạ tầng giao thông, hợp tác năng lượng, viễn thông, hài hoà tiêu chuẩn kỹthuật, thủ tục hải quan,...
Thứtư, thúc đẩy cải cách hành chính tập trong lĩnh vực thuận lợi hoá thương mại,cụ thể là thực thi cơ chế Một cửa ASEAN. Cải cách hành chính để tạo thuận lợicho hoạt động của các doanh nghiệp là giải pháp phù hợp quy định của pháp luậtthương mại quốc tế và mang tính bền vững. Trong bối cảnh các rào cản thương mạiđã được dỡ bỏ, quốc gia nào có các cơ chế quản lý minh bạch, thuận lợi hơn chodoanh nghiệp sẽ có lợi thế hơn các đối thủ trong khai thác các cơ hội AEC. Chúngta nhận thức rõ ý nghĩa và sự cấp bách của cải cách hành chính đối với nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia. Tuy nhiên, thực tế cải cáchtrong lĩnh vực quản lý xuất nhập khẩu thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được kỳvọng của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của thương mại quốc tế. Đề án “Cơchế một cửa quốc gia” cho phép điện tử hoá các thủ tục cấp phép ở các Bộ, ngànhvà tập trung về một đầu mối quốc gia. Quy trình này sẽ giúp rút ngắn thời gian,giảm chi phí hành chính và tình trạng quan liêu. Do đó, cần nhìn nhận việc thựchiện “Cơ chế một cửa quốc gia” không chỉ là một nghĩa vụ trong lộ trình thựcthi AEC mà còn xuất phát từ nhu cầu nội tại tạo thuận lợi cho hoạt động củadoanh nghiệp. Các cơ quan liên quan cần tập trung khắc phục các khó khăn về kỹthuật, quản lý… để hoàn thành thiết lập hệ thống một cửa quốc gia và kết nối vớicác hệ thống của các quốc gia thành viên để hình thành cơ chế một cửa ASEAN.
Thứnăm, cần đổi mới nhận thức, hình thành tư duy và tầm nhìn quy mô khu vực của cácnhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ dần hình thành nhữngphương pháp tiếp cận đối với các cơ hội và thách thức khi thị trường chung AECvận hành. Để khai thác một thị trường lớn hơn, cơ hội kinh doanh nhiều hơn cầncó chiến lược và phương thức kinh doanh dài hạn và bài bản hơn. Điều này đặcbiệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hầu hết là vừa, nhỏvà rất nhỏ. Đặc biệt cần chú trọng xây dựng thương hiệu và công tác nghiên cứu,dự báo thị trường.
(Nguồn Báo Công Thương Điện Tử)
Sở Công Thương thực hiện
