Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học dưới góc nhìn tâm lý học, giáo dục học
Phóng to Thu nhỏ In
Dạy học (dạy và học) phát triển phẩm chất, năng lực người học là cách thức dạy học có ưu thế vượt trội hướng người học hình thành và phát triển nhân cách. Tuy vậy để thực hiện tốt dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học, cả người dạy và người học cần hiểu rõ bản chất, nội dung của vấn đề.

Trên cơ sở đó người dạy vận dụng tốt phương pháp, kỹ thuật dạy học và đưa ra những chỉ dẫn, định hướng đến người học. Người học hiểu rõ những chỉ dẫn giáo dục từ người dạy, tích cực học tập, tự học tự rèn luyện và trải nghiệm để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho mình.

Bài viết sẽ phân tích nội dung dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học trên cơ sở tâm lý học, giáo dục học nhằm góp phần làm phong phú và sáng tỏ thêm vấn đề này trong lý luận và thực tiễn.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong thời đại ngày nay khi mà tri thức, khoa học, công nghệ, thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ đã làm cho thế giới rộng lớn trở thành cái làng toàn cầu nhỏ bé. Thế giới luôn thay đổi và ngày càng thay đổi nhanh chóng. Một phát minh ngày hôm nay có thể sẽ lạc hậu ngay ngày hôm sau.  Hiện nay cứ 3 năm tri thức của loài người tăng lên gấp hai lần và kỷ lục thời gian này luôn được rút ngắn lại. Giáo dục và đào tạo vì vậy cũng bị tác động mạnh mẽ. Ngày nay, việc học nhằm phát huy trí lực, bắt người học học càng nhiều càng tốt tri thức của loài người đã trở thành điều không tưởng. Đi học một lần trong một giai đoạn nào đó rồi sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học trong suốt cuộc đời là điều không thể. Việc học theo chương trình định sẵn, cứng nhắc, không tích hợp, không phân hóa, không liên thông và không được tự chọn đã là điều lạc hậu.

Do vậy nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành cải cách giáo dục khi bước vào thế kỷ XXI. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục nước ta cũng đang thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện. Một trong những nội dung đổi mới căn bản, quan trọng là đổi mới mục tiêu giáo dục và đào tạo theo quan điểm giáo dục phải nhằm định hướng phát triển phẩm chất và  năng lực người học.

II. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

2.1. Khái niệm về phẩm chất, năng lực.

       2.1.1.Phẩm chất.

Một cách khái quát: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật. [4].  Riêng đối với người, phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục. Đó là phẩm chất chung, cơ bản của con người là một hệ chuẩn mực, là thước đo được xã hội nhìn nhận để đánh giá phẩm chất con người và cũng để từng cá nhân hướng vào mà phát triển phẩm chất cho riêng mình.

Trong thực tế có nhiều dạng phẩm chất có "kích thước" khác nhau, có những phẩm chất nhỏ hơn phẩm chất chung được coi như phẩm chất thành phần, phẩm chất bộ phận. Đó là những phẩm chất con của phẩm chất chung như: Phẩm chất đạo đức, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất nghề nghiệp, phẩm chất chính trị…

Tổ hợp khác nhau các phẩm chất thành phần sẽ tạo ra các phẩm chất chung khác nhau. Do vậy, trong các giai đoạn và thời đại lịch sử khác nhau xã hội sẽ cần có những phẩm chất chung khác nhau.

2.1.2. Năng lực

Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. [4], cụ thể hơn: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.

Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù là năng lực có tính chuyên biệt thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên, năng lực nghề là năng lực hình thành và phát triển do tính chất, đặc điểm  của một nghề cụ thể.

Tổ hợp một số năng lực đặc thù, chuyên biệt lại sẽ tạo ra một nhóm năng lực chung cho một yêu cầu về việc hình thành, phát triển một loại năng lực nào đó. Thí dụ năng lực giao tiếp và năng lực hợp tác hợp thành nhóm năng lực quan hệ xã hội.

2.2. Mối  tương quan giữa phát triển phẩm chất, năng lực với nhân cách.

2.2.1.Nhân cách:

 Một cách chung nhất, nhân cách là một chỉnh thể thống nhất của nhiều thuộc tính tâm lý như: phẩm chất, năng lực, xu hướng, phong cách, khí chất và cả thể chất…  của mỗi cá nhân, nó làm nên sự độc đáo và khác nhau phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác. Tuy vậy cho đến nay, cách nhìn nhận về nhân cách còn có ít nhiều khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận.

Theo các nhà tâm lý học thì: Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội (V.X.Mukhina).[1], hoặc :Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định (A.G. Covaliop) [1].

Dưới góc nhìn giáo dục học thì:  Nhân cách là tổ hợp của những phẩm chất và năng lực, là đạo đức và tài năng được kết tinh ở mỗi con người [2].

Ở Việt Nam, quan niệm nhân cách  bao gồm hai thành phần cơ bản là phẩm chất và năng lực (đức, tài) được thừa nhận và được nghiên cứu, vận dụng rộng rãi, nhất là đối với công tác giáo dục, đào tạo. Trong đó phẩm chất bao gồm 4 nội dung:  phẩm chất xã hội, phẩm chất cá nhân, phẩm chất ý chí và phẩm chất ứng xử. Năng lực bao gồm 4 nội dung cơ bản: năng lực xã hội hóa, năng lực chủ thể hóa, năng lực hành động và năng lực giao tiếp. Đây có thể coi là phẩm chất và năng lực khung của nhân cách theo quan niệm cấu trúc nhân cách hai thành phần.

2.2.2. Phát triển phẩm chất, năng lực trong mối tương quan với phát triển nhân cách.

Sự tương quan đó biểu hiện trên hai khía cạnh:

  • Thông thường, trong từng con người khi một năng lực được hình thành, phát triển thì cũng có một phẩm chất tương ứng đang tồn tại và ngược lại với một phẩm chất đang hiện hữu thì phẩm chất đó cũng đang được biểu hiện bởi một năng lực cùng tính chất. Thí dụ tương ứng với năng lực chuyên môn thì có phẩm chất nghề nghiệp, tương ứng năng lực nhận thức là phẩm chất trí tuệ, năng lực ứng xử là phẩm chất đạo đức…Quá trình phát triển phẩm chất, năng lực cũng là quá trình phát triển nhân cách.
  • Trong thực tế, ta thường gặp những nhân cách theo dạng năng lực nào phẩm chất ấy nhưng không phải bao giờ cũng vậy, trình độ của phẩm chất và năng lực song bằng nhau là biểu hiện của một nhân cách hài hòa. Phẩm chất và năng lực lệch nhau ( tài cao, đức kém hoặc đức trọng tài hèn) nói lên một nhân cách chưa toàn vẹn. Phẩm chất rất tốt, năng lực hơn người sẽ là những nhân cách cao đẹp, nhân tài trong xã hội (tài đức vẹn toàn). Do vậy tính chất, trình độ của phẩm chất và năng lực nói lên vị thế của nhân cách. Một nhân cách hoàn thiện thì phẩm chất và năng lực hoà quyện với nhau thành chỉnh thể.

2.3. Một số cách tiếp cận quan điểm dạy học phát triển phẩm chất, năng lực cho người học dưới góc nhìn tâm lý học, giáo dục học.

2.3.1.Tiếp cận từ góc nhìn giáo dục học.

- Tiếp cận theo sơ đồ hóa :

So với quan điểm dạy học cung cấp, chuyển giao tri thức cho người học (quan điểm truyền thống) thì quan điểm dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học (quan điểm đối mới căn bản, toàn diện) tuy có kế thừa, giao thoa với quan điểm dạy học truyền thống về hoạt động giáo dục nhưng đã thay đổi hẳn về chất xét trên mục tiêu và phương pháp giáo dục.

Sơ đồ 1

Sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối tương quan, giao thoa với các yếu tố tư tưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ. [3].

-Tiếp cận theo phương pháp giáo dục:

Theo góc nhìn phương pháp giáo dục thì dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học chính là cách thức để người học tích tụ dần dần các phẩm chất thành phần, các năng lực đặc thù, chuyên biệt  thành  các phẩm chất,  năng lực chung của mục tiêu giáo dục đã đặt ra.

-Tiếp cận theo nội dung giáo dục:

Dạy học phát trển phẩm chất, năng lực là cách thức hướng người học tiến tới đạt được các tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực trong từng môn học, lớp học, cấp học  qua từng ngày, tháng, năm để phát triển nhân cách.

-Tiếp cận theo mục tiêu giáo dục:

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học là cách dạy học (dạy và học):

+ Không  chỉ là dạy học mà dạy cách học

+ Không cung cấp kiến thức mà chỉ cách tìm ra kiến thức.

+ Không dạy học nhằm học thuộc kiến thức mà chỉ cách vận dụng kiến thức .

+ Không chỉ có dạy chữ mà còn phải dạy người.

+ Không dạy lập lại kiến thức mà dạy cách sáng tạo từ kiến thức đó.

+ Không phải dạy học để " học sinh học được những gì mà để làm được gì".

+ Không phải dạy học để người học có nhiều kiến thức cao siêu nhưng lại không làm được điều thiết thực.

+ Không dạy học chỉ có giáo khoa mà phải trải nghiệm.

  1.  

2.3.2. Tiếp cận từ góc nhìn tâm lý học.

-Tiếp cận theo hướng khơi dậy những yếu tố bên trong của người học:

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có ưu thế vượt trội trong  phát triển nhân cách người học do bởi nó phải khơi gợi, kích hoạt được những thuộc tính tâm lý bên trong của người học như xu hướng, tình cảm, bẩm sinh, di truyền, động cơ học tập, …nhằm hướng tới nhân cách thông qua các hoạt động sống và trải nghiệm thực tiễn.

-Tiếp cận theo quan điểm phát triển:

Con người bình thường được sinh ra sẽ có sẵn những mầm mống của năng lực và phẩm chất, trước hết là những mầm mống phẩm chất, năng lực người. Một số người còn có những mầm mống của các tài năng chuyên biệt. Do vậy dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phải làm cho các mầm mống của phẩm chất, năng lực người học được phát triển và tỏa sáng. Nói dạy học để hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực người học là một cách nói cho hợp logic, tuy nhiên phát triển phải là chủ đạo trong mối tương quan giữa hình thành và phát triển.

                                               Sơ đồ 2

Vai trò của giáo dục trong hình thành nhân cách người học

 

-Tiếp cận theo tính tương thích của phẩm chất và năng lực:

Dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học là cách dạy học làm cho cả phẩm chất và năng lực cùng phát triển đồng bộ về tính chất, trình độ và tương thích nhau. Điều đó là khả thi bởi vì với một năng lực được phát triển thì có một phẩm chất tương ứng. Khi dạy học làm phát triển một năng lực thì hoàn toàn có khả năng làm phát triển một phẩm chất tương ứng và ngược lại. Mặt khác, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực cũng không đặt vấn đề là phát triển năng lực trước hoặc phát triển phẩm chất trước. Điều quan trọng là làm cho tính chất, trình độ của phẩm chất và năng lực song bằng nhau.

2.4. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, sinh viên theo mô hình Việt Nam ( 3 phẩm chất, 8 năng lực)

2.4.1.Nội dung 3 phẩm chất, 8 năng lực.

Ngày 5/8/2015, trong hội nghị về đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa sau năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố một chương trình tổng thể gồm ba phẩm chất và tám năng lực như sau.

          Ba phẩm chất là: Sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm.

          - Sống yêu thương gồm: Yêu tổ quốc, giữ gìn phát huy truyền thống, di sản quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, nhân ái, khoan dung, yêu thiên nhiên.

          - Sống tự chủ gồm: Sống trung thực; tự trọng; tự lực; chăm chỉ; vượt khó; tự hoàn thiện.

          - Sống trách nhiệm gồm: Tự nguyện; chấp hành kỷ luật; tuân thủ pháp luật; bảo vệ nội quy, pháp luật.

Tám năng lực: Tám năng lực chia thành 3 nhóm năng lực:

- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân ( năng lực tự học, năng lực tự gỉải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất).

- Nhóm năng lực quan hệ xã hội ( năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác)

- Nhóm năng lực công cụ (năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông).

Trên đây là hệ thống phẩm chất, năng lực chung, sẽ được cụ thể hóa trong chương trình sách giáo khoa của từng cấp học, môn học.

2.4.2. Vận dụng trong thực tiễn.

- Đối với hoạt động dạy học: Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học là vấn đề không mới trong lý luận dạy học nhưng trong thực tiễn giáo dục Việt Nam nó còn nhiều mới mẻ trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện. Riêng trong lĩnh vực dạy học đây là lần đầu tiên ngành giáo dục thực hiện sự đổi mới đồng bộ trên nhiều khía cạnh : Đổi mới nội dung, chương trình, mục tiêu, phương pháp  giáo dục, sách giáo khoa, môn học, tổ chức, quản lý giáo dục…Do vậy, cán bộ quản lý và nhà giáo phải thực hiện nhiều chuyển đổi năng lực của mình để thực hiện thành công dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học. Trong đó, trọng tâm là hoạt động dạy học của đội ngũ nhà giáo. Trong khuôn khổ bài viết này, thiết nghĩ nhà giáo chúng ta có thể nghiên cứu, vận dụng các cách tiếp cận ở phần 2.3 vào trong dạy học như tiếp cận theo phương pháp giáo dục trong việc tích tụ năng lực, phẩm chất người học; tiếp cận theo hướng khơi gợi những thuộc tính tâm lý  bên trong của người học, tiếp cận theo mục tiêu giáo dục…

 - Đối với học sinh, sinh viên: Thầy, cô giáo cần thấy rõ những phẩm chất, năng lực mà môn học của mình sẽ góp phần phát triển cho học sinh, sinh viên để có định hướng tốt cho học sinh, sinh viên và góp phần phát triển phẩm chất, năng lực chung của nhân cách (xem bảng 1) . Dạy học trên lớp thầy và trò cần phối hợp sử dụng linh hoạt, thành thục các phương pháp và kỹ thuật dạy học tiên tiến, các phương tiện dạy học phù hợp, hiện đại để nâng cao hiệu quả dạy học phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, sinh viên. Thầy, cô giáo quan tâm khuyến khích, định hướng cho học sinh, sinh viên tự học, tự đào tạo, tích cực tổ chức và tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế.

Bảng 1

Bảng tóm tắt vai trò của các môn học trong hình thành năng lực học sinh (theo nguồn Bộ GD ĐT) [5].

Vai trò của các môn học đối với việc phát triển

năng lực chung của học sinh

Tên môn học, nhóm môn học

Các năng lực chung

Tự học

Giải quyết vấn đề và sáng tạo

Thẩm mỹ

Thể chất

Giao tiếp

Hợp tác

Tính toán

CNTT và Truyền thông

01.Tiếng Việt, Ngữ văn

A

A

A

C

A

B

C

C

02.Ngoại ngữ

A

A

A

C

A

B

C

B

03.Tiếng dân tộc

B

B

A

C

B

B

C

C

04.Toán

A

A

B

C

B

B

A

A

05.GD lối sống, GDCD, CD với TQ

A

A

A

B

A

A

C

C

06.Thể dục-thể thao, Thể dục, Thể thao

A

A

B

A

B

B

C

C

07.Âm nhạc-Mỹ thuật, Âm nhạc

A

A

A

C

B

B

C

B

08.Mỹ thuật

A

A

A

C

B

B

C

C

09.Tìm hiểu XH, LS, ĐL, KHXH

A

A

B

C

B

B

C

C

10.Cuộc sống quanh ta, tìm hiể TN, VL,HH,SH KTNN

A

A

B

A

B

B

B

B

11.Công nghệ

A

A

B

C

B

B

A

A

12.Kỹ thuật- tin học, Tin học

A

A

A

B

A

A

A

A

13.Hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo

A

A

A

A

A

A

A

A

14.Nghiên cứu KHKT

A

A

B

B

B

B

B

B

15.Chuyên đề học tập

A

A

B

B

B

B

B

B

 

Ghi chú:

+ Mức độ A: Môn học đóng vai trò chủ yếu đối với sự phát triển năng lực chủ yếu.

+ Mức độ B: Môn học góp phần phát triển năng lực tương ứng.

          + Mức độ C: Môn học tạo cơ hội phát triển năng lực tương đương.

 

III. KẾT LUẬN.

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có vai trò trung tâm chi phối đến sự thành công của việc thực hiện nội dung, chương trình, mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Quá trình thực hiện sẽ có nhiều khó khăn, vướng mắc, cản ngại do tính mới mẻ của vấn đề, do thói quen và sức ỳ tâm lý trong chuyển đổi. Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn, tiến hành thí điểm, thực nghiệm, học tập kinh nghiệm và sơ, tổng kết về vấn đề này cần được quan tâm thực hiện trong ngành giúp thầy cô giáo vượt qua khó khăn góp phần thực hiện tốt, thực hiện thành công  sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

                                                                                 Bài: NGƯT.TS. Phạm Văn Khanh

Ảnh: http://www.tgu.edu.vn

-------------------------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Phạm Minh Hạc (2010). Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục. Việt Nam

2. Nguyễn Văn Hộ - Hà Thị Đức (2002), Giáo dục học đại cương tập1, NXB Giáo dục. Việt Nam

3. Phạm Văn Khanh, (2015) Dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học trong mối quan hệ với phát triển nhân cách. Sách Hội thảo khoa học toàn quốc Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục Việt Nam, NXB Đại học sư phạm. Hà Nội

4. Hoàng Phê (Chủ biên) (1994), Từ điển tiếng Việt,  NXB Khoa học xã hội- Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Việt Nam.

5. Wikipedia.org, Ba phẩm chất và tám năng lực


Tấn thực hiện