Câu 1. Cụm từ “tín dụng đen” được hiểu như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 13 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định 03 loại nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng bao gồm: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Khoản 14 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Tuy nhiên, hiện nay, không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể thế nào là “tín dụng đen”. Trên thực tế, tín dụng đen có thể hiểu là một hình thức cho vay tín dụng với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật từ các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động cho vay tiền nhưng không đăng ký kinh doanh, không được sự cấp phép của nhà nước và không tuân thủ các quy định về lãi suất và điều kiện vay (còn gọi là cho vay nặng lãi).
Câu 2. Thực trạng hoạt động tín dụng đen hiện nay trên địa bàn tỉnh ra sao? Các hình thức tín dụng đen phổ biến?
Trả lời:
- Về thực trạng của hoạt động tín dụng đen hiện nay:
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” xảy ra ngày càng nhiều không chỉ riêng ở tỉnh Tiền Giang, mà xảy ra tại nhiều địa phương trên cả nước; gây ảnh hưởng, phức tạp đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; đây là nguồn gốc phát sinh của nhiều loại tội phạm.
Xuất phát từ tình hình trên, trong những năm qua Công an tỉnh đã mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp xử lý nhiều tổ chức và cá nhân liên quan đến tín dụng đen. Đặc biệt là sau đại dịch Covid 19, các doanh nghiệp giảm giờ làm hoặc cắt giảm lao động số lượng lớn, do đó người lao động gặp nhiều khó khăn về kinh tế, nên tình hình liên quan đến tội phạm “tín dụng đen” có chiều hướng diễn biến phức tạp, gây mất an ninh trật tự, kéo theo nhiều hệ lụy trong xã hội.
- Các hình thức của tín dụng đen:
+ Cho vay tiền qua các app, vay tiền bằng các giấy tờ tùy thân.
+ Cho vay tiền bằng bảng lương, hợp đồng lao động.
+ Hình thức, thủ tục cho vay “tín dụng đen” rất đơn giản, nhanh chóng, chỉ cần yêu cầu giấy tờ cá nhân và giấy tờ xe cộ đang sở hữu, hồ sơ được duyệt rất nhanh (chỉ trong vòng từ 10 đến 30 phút).
+ Hợp đồng vay đơn giản, thậm chí được thỏa thuận bằng miệng, không có giấy tờ kèm theo. Lãi suất rất cao: từ 100% đến 360%/năm (tùy theo số tiền vay mượn). Nếu thanh toán tiền vay, lãi không đúng hẹn sẽ bị bên cho vay gây áp lực, đe dọa khủng bố tinh thần người thân và gia đình buộc bên vay phải thanh toán nợ.
+ Các cá nhân hoặc tổ chức cho vay liên quan đến tín dụng đen không được pháp luật công nhận.
- Từ đó phát sinh nhiều hệ hệ lụy như:
+ Người vay phải trả số tiền rất cao, gấp nhiều lần so với số tiền ban đầu vay dẫn đến mất khả năng trả nợ.
+ Nếu người vay không thực hiện trả nợ lãi và gốc, sẽ bị bên cho vay tín dụng đến siết nợ, đòi nợ, uy hiếp bất kể ngày đêm, gây ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần, người vay phải tìm mọi cách để trả nợ (tài sản bị thâm hụt dẫn đến có thể thực hiện hành vi vi pháp luật để có tiền trả nợ như: Giết người, cưỡng đoạt tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, gây rối trật tự công cộng hay cố ý gây thương tích hoặc tự tử,..).
+ Đối với doanh nghiệp thì có thể bị phá sản, vỡ nợ, thâm hụt vốn, tài sản doanh nghiệp bị đem cầm bán mất uy tín với đối tác,…
+ Gây ảnh hưởng nghiêm trọng với dòng lưu thông tiền tệ của đất nước.
Câu 3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến người dân vay nợ liên quan đến tín dụng đen hiện nay? Hình thức đòi nợ liên quan tín dụng đen ra sao?
Trả lời:
Thực tế cho thấy, do nhu cầu vay vốn làm ăn, kinh doanh trên thị trường hiện nay rất “nóng” nhất là sau đại dịch Covid 19 các doanh nghiệp và người dân cần vốn để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Trong khi đó việc cho vay và giải ngân của ngân hàng, các tổ chức tín dụng hợp pháp rất chặt chẽ, khi vay vốn phải có tài sản thế chấp và được thẩm định đủ điều kiện mới được vay.
Do đó, doanh nghiệp và người dân khó tiếp cận vốn vay từ nguồn vốn của ngân hàng nếu không có tài sản thế chấp hoặc không đủ điều kiện vay. Trong khi đó việc tiếp cận nguồn vốn từ “tín dụng đen” ở ngoài xã hội lại quá dễ dàng và hình thức vay tính cấp, người vay chỉ cần có các loại giấy tờ như: Căn cước công dân, sổ hộ khẩu hoặc một số giấy tờ tùy thân khác như thẻ sinh viên, thẻ ATM, bằng cấp,... thì được giải ngân ngay.
- Hình thức đòi nợ liên quan tín dụng đen chủ yếu:
+ Đối với những trường hợp người vay tiền không còn khả năng thanh toán thì các đối tượng cho vay thuê các đối tượng có tiền án tiền sự gây áp lực để bên vay phải trả nợ, hoặc siết tài sản của bên vay…
+ Hoặc bên cho vay thuê hoặc bán nợ cho bên thứ ba để đòi nợ. Từ đó, nhiều công ty tư vấn luật, công ty cho vay tài chính,.. với thủ đoạn là núp bóng việc hợp tác với một số tổ chức ngân hàng, các công ty tài chính thực hiện hành vi đòi nợ thuê với mức thù lao khủng (25% đến 35% tổng số tiền thu được) dưới danh nghĩa hợp đồng trợ giúp pháp lý. Nhân viên của các công ty này không phải chuyên viên luật mà hoạt động chính là đòi nợ thuê. Khi người vay không còn khả năng trả nợ, để thu được tiền vay các công ty cho nhân viên thu hồi nợ từ cấp độ thấp đến cấp độ cao: từ điện thoại nhắc nợ đến điện thoại khủng bố người thân bạn bè, dùng thủ đoạn: đe dọa, bắt cóc người thân, chở bình ga, quan tài đến nhà, cơ quan…
Câu 4. Theo quy định pháp luật, lãi suất cho vay hợp pháp là bao nhiêu?
Trả lời:
Hiện nay, các tổ chức, cá nhân cho vay áp dụng nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau. Mức lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:
- Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
+ Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
+ Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
- Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định nêu trên tại thời điểm trả nợ.
Đồng thời Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cũng quy định về lãi suất cho vay như sau:
- Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
Như vậy, trong giao dịch dân sự, mức lãi suất cao nhất được quy định là 20%/năm. Tuy nhiên, trong quan hệ cho vay giữa các tổ chức tín dụng và khách hàng thì lãi suất giữa các bên là thỏa thuận, trừ trường hợp theo khoản 1 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, theo đó: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
Câu 5. Hiện nay, phương thức, thủ đoạn của tội phạm liên quan đến tín dụng đen là gì?
Trả lời:
Phương thức, thủ đoạn phổ biến của tội phạm liên quan đến tín dụng đen như sau:
- Lợi dụng điều kinh tế của một bộ phận người dân gặp nhiều khó khăn cần vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, các đối tượng lừa đảo nắm được tâm lý này dùng thủ đoạn. Mạo danh một số ngân hàng, các công ty tài chính có thật tại Việt Nam, tạo lập website, ứng dụng, chạy quảng cáo thông qua các nền tảng mạng xã hội để chào mời cho vay tín chấp.
- Phát, dán tờ rơi tại các địa điểm công cộng, cột điện, tường rào, nơi có nhiều người qua lại hoặc tạo lập hàng nghìn tài khoản facebook với các nguồn thông tin giả, tham gia vào các hội nhóm, diễn đàn, đăng bài quảng cáo cho vay tín chấp với lãi suất thấp (chỉ 1%/ tháng), thủ tục vay đơn giản, không cần gặp trực tiếp; nợ xấu vẫn vay được; không thế chấp, không thẩm định, chỉ cần Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân và có tài khoản ngân hàng/thẻ ATM là có thể vay được tiền... Một số đối tượng cho vay khác hoạt động thông qua quan hệ quen biết, giới thiệu...
- Khi có người vay tiếp cận, các đối tượng sẽ dẫn dụ, yêu cầu người vay cung cấp thông tin cá nhân, như: họ tên, số điện thoại, ảnh chụp CMND/CCCD, ảnh chụp chân dung… phục vụ làm hồ sơ vay. Sau khi thuyết phục được người vay chuyển tiền phục vụ hỗ trợ xác minh, duyệt khoản vay, các đối tượng tiếp tục viện dẫn hàng loạt các lý do khoản vay không được giải ngân xuất phát từ lỗi khai hồ sơ của người vay . Từ đó, chúng yêu cầu người vay phải nộp thêm các khoản tiền để bảo đảm khoản vay hoặc khắc phục lỗi hệ thống; hứa hẹn sẽ hoàn trả lại số tiền đã gửi cho khách hàng sau khi khoản vay được giải ngân. Tuy nhiên, khi người vay chuyển tiền vào số tài khoản của các đối tượng cung cấp, các đối tượng sẽ lập tức chiếm đoạt và ngắt liên lạc.
- Trên thực tế, để đảm bảo thu hồi vốn,lãi khi đã cho vay, thì các đối tượng cho vay tín dụng đen thường yêu cầu người vay phải lập hợp đồng “giả cách” chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc phương tiện giao thông cho bên cho vay mới được vay vốn. Người vay cần vay số tiền lớn trong thời gian ngắn để sử dụng và chấp nhận trả lãi suất rất cao đến khi mất khả năng chi trả sẽ bị buộc chuyển quyền sỡ hữu tài sản thế chấp cho các đối tượng cho vay. Hình thức thu tiền vay do hai bên thỏa thuận có thể được thu, ngày, tuần và tháng…
Câu 6. Người phạm tội cho vay nặng lãi, bị xử lý ra sao?
Trả lời:
- Về xử lý hành chính: Theo điểm d khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định 144/2021NĐ-CP): Hành vi kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.
- Về xử lý hình sự: Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người phạm tội cho vay nặng lãi bị xử lý hình sự như sau:
+ Cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
+ Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
+ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể, hành vi cho vay nặng lãi sẽ bị xử phạt hành chính theo điểm d khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015.
Câu 7. Theo quy định pháp luật thì hợp đồng tín dụng như thế nào được xem là hợp đồng tín dung đen? Những biểu hiện để nhận biết hợp đồng tín dụng đen là gì?
Trả lời:
- Hợp đồng tín dung đen:
+ Bản chất hợp đồng tín dụng là hợp đồng cho vay tài sản được ký kết theo thỏa thuận của các bên với một bên là tổ chức tín dụng với mức lãi suất trong hợp đồng theo thỏa thuận nhưng phải phủ hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng.
+ Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021: “Cho vay lãi nặng” là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự (Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định:Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác).
Như vậy, việc cho vay với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên so với hạn mức lãi suất 20% do pháp luật quy định để thu lợi bất chính được xem là hợp đồng tín dụng đen.
- Những biểu hiện hợp đồng tín dụng đen:
+ Thứ nhất, cho vay bất chấp mục đích vay của người vay là gì; không hạn chế thời gian vay vì lãi được tính theo ngày; có thể trả lãi 10 ngày/lần hoặc 01 tháng/lần hoặc theo thỏa thuận; tiền lãi kỳ đầu được khấu trừ ngay vào lần vay đầu tiên.
+ Hai là, không cần giữ tài sản thế chấp khi vay nhưng chủ nợ thường sẽ ghi trong hợp đồng vay nội dung: Quá thời hạn trả nợ nếu bên vay không trả được nợ thì bên cho vay có quyền thu hồi nhà, đất, tài sản của bên vay.
+ Ba là, không ghi mức lãi vay và mục đích vay đều được ghi thể hiện ở một số nội dung bình thường và chung chung như: để giải quyết công việc gia đình, để lấy tiền ăn học cho con; để chữa bệnh, để làm ăn, để đáo nợ, để xin việc…Các khoản vay được tách nhỏ (10, 20, 30… triệu đồng) ở các thời điểm khác nhau; mỗi lần vay, bên cho vay chỉ lập 01 giấy cho vay do bên cho vay giữ. Quá trình trả nợ, do lãi suất lớn nên người vay không trả được lãi thì các chủ nợ bắt đầu có các hoạt động biến tướng tinh vi hơn như: Trực tiếp hoặc dùng số đối tượng “xã hội đen”; tổ chức đòi nợ chuyên nghiệp cho người đe dọa; đánh đập hoặc tuy không đánh đập nhưng cho những đối tượng xăm trổ hung hãn mang theo băng rôn đòi nợ đến nhà riêng, nhà bố mẹ anh em, cơ quan, đơn vị của người vay tiền để gây áp lực trả nợ hoặc tiến hành gọi (hoặc bắt) người vay đến một địa điểm, đe dọa, khống chế …
Câu 8. Người dân cần làm gì để góp phần phòng, ngừa lừa đảo liên quan đến tín dụng đen?
Trả lời:
- Người dân cần chủ động nâng cao ý thức cảnh giác trước các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi có nhu cầu vay tiền, cần liên hệ trực tiếp với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng để được tư vấn, hướng dẫn làm thủ tục vay vốn.
- Khi có nhu cầu vay tiền người dân hãy tìm hiểu kỹ, xác thực chính xác các Ngân hàng, Công ty tài chính, các tổ chức tín dụng được pháp luật cho phép kinh doanh trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng có lãi suất cho vay thấp như Ngân hàng chính sách, để tiếp cận nguồn vốn vay.
- Tuyệt đối không cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, mã OTP được gửi vào hòm thư, điện thoại di động cho các đối tượng. Không chuyển tiền vào tài khoản cá nhân mà các đối tượng lạ cung cấp, dụ dỗ.
- Khi phát hiện đối tượng có dấu hiệu lừa đảo, nhanh chóng trình báo cơ quan Công an nơi gần nhất để được xử lý kịp thời.
Câu 9. Quy định pháp luật về hình thức và nguyên tắc “chơi hụi” như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015:
- Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.
- Dây họ là một họ hình thành trên cơ sở thỏa thuận cụ thể của những người tham gia họ về thời gian, phần họ, thể thức góp họ, lĩnh họ, quyền, nghĩa vụ của chủ họ (nếu có) và các thành viên.
- Thành viên là người tham gia dây họ, góp phần họ, được lĩnh họ và trả lãi (nếu có).
- Chủ họ là người tổ chức, quản lý dây họ, thu các phần họ và giao các phần họ đó cho thành viên được lĩnh họ trong mỗi kỳ mở họ cho tới khi kết thúc dây họ. Chủ họ có thể đồng thời là thành viên của dây họ.
* Về các nguyên tắc tổ chức hụi: được quy định ở Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu phường (Nghị định 19/2019/NĐ-CP):
- Việc tổ chức hụi cần tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự bao gồm: không phân biệt đối xử; việc thực hiện, xác lập, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự cần được được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, thiện chí, trung thực, và không được xâm phạm đến lợi ích người khác.
- Việc tổ chức chơi hụi chỉ nhằm mục đích tương trợ nhân dân, không được tổ chức dưới hình thức lừa đảo, cho vay nặng lãi, chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái phép hoặc các hành vi khác.
- Trường hợp tổ chức chơi hụi có lãi suất thì phải tuân theo quy định ở Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015: Các bên vay có lãi suất thì mức lãi suất không vượt quá 20%/năm, vượt quá mức lãi suất này sẽ không có hiệu lực.
Câu 10. Nếu vi phạm các quy định về “chơi hụi” thì bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, có 3 mức xử phạt vi phạm hành chính khi vi phạm quy định liên quan đến hụi, cụ thể như sau:
- Mức 1: Phạt tiền từ 02-05 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Không thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi; Không thông báo đầy đủ về số lượng dây họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi tắt là họ), phần họ, kỳ mở họ hoặc số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ; Không lập biên bản thỏa thuận về dây họ hoặc lập biên bản nhưng không có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật; Không lập sổ họ; Không giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ; Không cho các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu; Không giao giấy biên nhận cho thành viên khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan.
- Mức 2: Phạt tiền từ 05-10 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100.000.000 đồng trở lên; Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức từ hai dây họ trở lên.
Mức 3: Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự; Tổ chức họ để huy động vốn trái pháp luật. Và còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Câu 11. Trường hợp chủ hụi giật hụi thì bị xử lý hình sự như thế nào?
Trả lời:
- Chơi hụi là hình thức huy động vốn nhằm tường trợ lẫn nhau đã được hình thành lâu đời ở nước ta. Hiện nay việc chơi hụi đã được pháp luật cho pháp, nhưng nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc chơi hụi để cho vay lãi nặng hoặc huy động vốn. Trong những năm gần đây không chỉ riêng ở Tiền Giang mà nhiều tỉnh thành trên cả nước xảy ra nhiều vụ vở hụi, giật hụi gây mất an ninh trật tự.
- Căn cứ theo Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP thì giao tiền hụi cho các hụi viên khi đến kỳ chính là nghĩa vụ của chủ hụi. Nếu chủ hụi đến kỳ hạn mất khả năng thanh toán thì cũng được xem là một trường hợp của “giật hụi”.
- Để xử lý hình sự đối với người giựt hụi, trong hai trường hợp sau đây:
+ Chủ hụi thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để chiếm đoạt tiền của hụi viên,thì sẻ bị xử lý hình sự theo điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
+ Chủ hụi thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của hụi viên thì sẻ bị xử lý hình sự theo điều 174 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Nếu Không có hai dấu hiệu trên việc vở hụi là do nguyên nhân khách quan thì các hụi viện có thể kiện chủ hụi ra Tòa án Nhân Dân các cấp để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự./.
Thành Trung
Phổ biến giáo dục pháp luật








Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc (0)
Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.