Ngày 19/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 230/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất (SDĐ), tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai 2024 (Nghị định số 230/2025/NĐ-CP). Một số nội dung như sau:
1. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất: được quy định tại Điều 3, trong đó:
Người có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất theo Điều 123 Luật Đất đai 2024 quyết định việc miễn tiền SDĐ, tiền thuê đất khi quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ, công nhận quyền SDĐ cho đối tượng tương ứng với đối tượng thuộc thẩm quyền giao đất, cho thuê đất theo quy định tại Nghị định này (trừ trường hợp quy định tại các khoản 3, 5 và 6 Điều 5 Nghị định này thì do cơ quan thuế quyết định việc miễn tiền thuê đất); trong đó, ghi rõ nội dung: lý do miễn; diện tích đất được miễn tiền SDĐ, tiền thuê đất; thời gian được miễn tiền thuê đất
Trường hợp được miễn tiền SDĐ, tiền thuê đất theo Nghị định này thì người SDĐ không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn tiền SDĐ, tiền thuê đất; chỉ phải cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền về việc thuộc đối tượng được miễn tiền SDĐ, tiền thuê đất theo quy định.
2. Miễn, giảm tiền SDĐ:
- Miễn tiền SDĐ đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở trong các trường hợp sau:
Giao đất ở tái định cư hoặc giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh, bổ sung đối tượng và cơ chế vay vốn xây dựng nhà ở thuộc chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng thường xuyên bị ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long;
Giao đất ở cho các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Giảm 30% tiền SDĐ hằng năm đối với các trường hợp SDĐ quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 201 Luật Đất đai 2024, Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.
- Việc miễn, giảm tiền SDĐ trong trường hợp cần thiết để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội (KT-XH), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn điều hành KT-XH hằng năm được thực hiện như sau: căn cứ vào nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch phát triển KT-XH được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định việc miễn, giảm tiền SDĐ của 01 năm theo quy định tại khoản này.
3. Miễn, giảm tiền thuê đất (Điều 5)
- Miễn tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê đối với các trường hợp như:
SDĐ để xây dựng trụ sở ngân hàng chính sách xã hội; SDĐ để xây dựng trụ sở Ngân hàng Phát triển Việt Nam; SDĐ để xây dựng trụ sở các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận được thành lập theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; SDĐ để xây dựng điểm Bưu điện - Văn hóa xã;
SDĐ để xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học của doanh nghiệp khoa học và công nghệ nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, bao gồm: Đất xây dựng phòng thí nghiệm, đất xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đất xây dựng cơ sở thực nghiệm, đất xây dựng cơ sở sản xuất thử nghiệm;
Miễn tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê đối với: đất thuộc các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số (Viện, Trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ số; đất thuộc dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, sản phẩm phần mềm, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo); đất để xây dựng Khu công nghệ số tập trung; Trung tâm đổi mới sáng tạo Quốc gia...
- Miễn, giảm tiền thuê đất đối với doanh nghiệp có dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
- (Khoản 3 Điều 5) Việc miễn, giảm tiền thuê đất đối với trường hợp người SDĐ được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà bị thiên tai, hỏa hoạn thực hiện như sau:
Trường hợp người thuê đất là tổ chức thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) từ 03 năm trở lên thì xác định số tiền thuê đất được miễn, giảm theo tỷ lệ (%) thiệt hại. Trường hợp người thuê đất là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức có thời gian hoạt động SXKD dưới 03 năm thì xác định số tiền thuê đất được giảm theo giá trị thiệt hại sau khi đã trừ các khoản được Nhà nước hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
- Việc giảm tiền thuê đất đối với trường hợp người SDĐ được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm sử dụng vào mục đích SXKD (trừ dự án SDĐ vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối) nhưng phải tạm ngừng hoạt động để khắc phục hậu quả do bị thiên tai, hỏa hoạn hoặc do tai nạn bất khả kháng:
Thời gian được giảm tiền thuê đất là thời gian tạm ngừng hoạt động SXKD theo xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký đầu tư hoặc cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ xác định thời gian tạm ngừng hoạt động SXKD theo quy định. Số tiền thuê đất được giảm được xác định bằng 50% số tiền thuê đất phải nộp của thời gian được giảm tiền thuê đất theo quy định trên. Người SDĐ nộp hồ sơ giảm tiền thuê đất tại cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Căn cứ hồ sơ giảm tiền thuê đất của người SDĐ, cơ quan thuế ban hành quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định.
- (Khoản 5 Điều 5) Miễn, giảm tiền thuê đất đối với các tổ chức (gồm: doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp công lập; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm SDĐ vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) có sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các địa bàn có địa giới hành chính thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.
- (Khoản 6 Điều 5) Miễn, giảm tiền thuê đất đối với tổ chức, đơn vị có sử dụng lao động là người khuyết tật được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm sử dụng vào mục đích SXKD.
- Miễn, giảm tiền thuê đất đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa theo Nghị định số 69/2008/NĐ-CP quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Quyết định số 1466/QĐ-TTg năm 2008 quy định danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường (sửa đổi, bổ sung các năm 2013, 2016) (ngoại trừ dự án được miễn, giảm tiền thuê đất theo điểm a khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai 2024 và được quy định cụ thể tại khoản 15 Điều 38 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP): Căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức miễn, giảm tiền thuê đất cụ thể đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa, theo nguyên tắc không cao hơn chế độ ưu đãi theo khoản 15 Điều 38 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP.
- Việc miễn, giảm tiền thuê đất trong trường hợp cần thiết để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội (KT-XH), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn điều hành KT-XH hằng năm: Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định việc miễn, giảm tiền thuê đất của 01 năm theo quy định.
4. Giảm tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 (Điều 6)
- Giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 đối với người SDĐ theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai 2024 đang được Nhà nước cho thuê đất dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm. Quy định tại Điều này áp dụng cho cả trường hợp người SDĐ không thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất hoặc hết thời hạn được miễn, giảm tiền thuê đất và trường hợp người SDĐ đang được giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.
Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày có quyết định giảm tiền thuê đất năm 2025 theo quy định tại Điều này; chủ đầu tư được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm để đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất phải thực hiện phân bổ số tiền thuê đất được giảm của diện tích đất đã được chủ đầu tư cho thuê lại theo khoản 6 Điều 202 Luật Đất đai 2024 (phân bổ đều theo tỷ lệ diện tích đất đã cho các đối tượng theo khoản 6 Điều 202 Luật Đất đai 2024 thuê lại). Số tiền thuê đất được giảm của diện tích đất chưa cho thuê lại được thì chủ đầu tư không cần thực hiện phân bổ. Trường hợp chủ đầu tư không thực hiện theo quy định tại khoản này thì không được hưởng chính sách giảm tiền thuê đất theo quy định.
- Hồ sơ, trình tự, thủ tục giảm tiền thuê đất của năm 2025:
Người SDĐ nộp 01 Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất (bản chính) theo Mẫu tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này (bằng một trong các phương thức: Gửi trực tiếp, gửi qua dịch vụ bưu chính, gửi qua phương thức điện tử, gửi qua Cổng dịch vụ công trực tuyến hoặc gửi qua hình thức khác theo quy định của pháp luật về quản lý thuế) cho cơ quan thuế hoặc cơ quan khác theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về quản lý thuế kể từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/11/2025. Không áp dụng giảm tiền thuê đất của năm 2025 đối với trường hợp người SDĐ nộp hồ sơ sau ngày 30/11/2025.
Căn cứ Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất do người SDĐ nộp theo quy định và Thông báo nộp tiền thuê đất năm 2025 của người SDĐ (nếu có); không quá 30 ngày kể từ ngày nhận Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất theo quy định, cơ quan, người có thẩm quyền xác định số tiền thuê đất được giảm và ban hành Quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định về điều khoản chuyển tiếp để các cơ quan, tổ chức, người SDĐ thực hiện nếu thuộc trường hợp chuyển tiếp.
Nghị định số 230/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2025./.
Hoài Vũ
Phổ biến giáo dục pháp luật








Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc (0)
Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.