Vai trò của người thầy trong xã hội từ xưa đến nay
Phóng to Thu nhỏ In

Từ xưa đến nay, nhân dân ta luôn luôn tôn vinh người thầy giáo và quý trọng nghề dạy học. Không phải ai cũng có thể làm được công việc đó bởi nó yêu cầu cao không chỉ về tri thức mà còn cả đạo đức, phẩm hạnh. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn dạy “đạo” - Đạo làm người; thông qua dạy kiến thức để giáo dục đạo đức cho con người. 

 

Chính vì vậy, nhà giáo được dành cho chổ ngồi danh dự, được quý trọng hơn cả cha mẹ chỉ đứng sau nhà vua (Quân, Sư, Phụ). Sở dĩ người thầy chiếm một địa vị như vậy là vì chẳng có ai làm nên mà không nhờ đến sự dạy dỗ, giáo huấn của thầy. Tục ngữ ta có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

Ca dao cũng cùng một ý:

Muốn khôn thì phải có thầy

Không thầy dạy dỗ, đố mày làm nên

Người thầy quan trọng là thế nên học trò phải kính nể:

Vua, Thầy, Cha ấy ba ngôi

Kính thời như một, trẻ ơi ghi lòng

Ơn thầy rất nặng nên thành tài rồi học trò không quên:

Mười năm rèn luyện sách đèn

Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy

Người học trò ngày xưa xem thầy như người thân trong gia đình nên: “Sống phải tết, chết phải giỗ”. Trong cuốn “Ngọc phả đình thôn Hương Lan” (xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ) do Ðông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn từ năm Hồng Phúc thứ hai (1573) có chuyện kể rằng: Vào thời Hùng Vương thứ 18, vua Hùng Duệ Vương đã mời hai vợ chồng thầy cô Vũ Thê Lang và Nguyễn Thị Thục (quê Bắc Ninh) vào cung dạy học trực tiếp cho hai công chúa mà nhà vua rất mực yêu quý là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Khi thầy cô tạ thế, Vua Hùng cùng người dân thôn Hương Lan tiếc thương công đức nên đã an táng ngay tại địa điểm Thầy Cô mở lớp dạy học, táng cùng một ngôi mộ. Nhà vua cũng cho phép thôn Hương Lan lập miếu để thờ cúng, hương hỏa cho Thầy Cô. Cho dù giai thoại này đang được các nhà khoa học kiểm chứng để tìm lời đáp cho câu hỏi: Như vậy là thời Hùng Vương nước ta đã có chữ? Nhưng có thể khẳng định muôn dân đất Việt từ xa xưa luôn kính trọng người thầy, coi trọng sự học và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” luôn được gìn giữ như một nét đẹp của dân tộc. Thầy đồ ngày xưa được ưu đãi, được miễn các thứ thuế, khỏi phải đi phu, tạp dịch. Khi có đàm giỗ, tiệc tùng, hội hè được dân làng mời ăn trên ngồi trước để tỏ lòng kính trọng đã có công dạy dỗ con em mình. Lúc thầy còn sống, học trò xem việc của thầy như việc của mình, ngày giỗ, Tết phải đến.

Khi thầy chết, học trò chung tiền làm đám tang, và phải kề vai khiêng quan tài thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng. Ngày giỗ thầy, học trò lập “hội môn sinh” cúng kiếng. Đọc lại sử sách, chúng ta cảm động xiết bao trước những tấm gương kính trọng thầy thuở xưa. Đối với thầy Chu Văn An đời Trần thì dù học trò làm đến chức Hành khiển - tương đương chức Thượng thư - là Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... thì khi đến thăm thầy cũng chỉ dám đứng hầu dưới đất, khi có lỗi thì cúi đầu nghe lời thầy quở trách. Sau khi thầy giáo Chu Văn An mất, có những người học trò quý mến thầy, họ làm nhà cạnh mộ ba năm. Đến nay, mộ Tiên sinh vẫn còn trong núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh (1).

Không chỉ là học trò mà ngay cả các vì vua vẫn luôn kính trọng thầy, vẫn coi mình là học trò nhỏ bé trước mặt thầy. Dân gian lưu truyền câu chuyện vua Hàm Nghi lộ thân phận khi giữ lễ với thầy giáo: Sau cuộc phản công kinh thành Huế thất bại, năm 1888, người Pháp bắt được vua Hàm Nghi tại Tuyên Hóa, Quảng Bình, khi đó được 17 tuổi. Lúc đầu sau khi bị bắt, nhà vua không nhận mình chính là bậc đế vương. Khi quân Pháp đón ngài vào đồn binh, cho binh lính xếp hàng chào, nhà vua thản nhiên nói: “Tôi chỉ là bề tôi, không dám nhận lời chúc mừng của các ông. Vua Hàm Nghi của chúng tôi hiện ở trong rừng sâu”. Do nhà vua không thừa nhận thân phận khiến quân Pháp vô cùng lo lắng, tìm mọi cách để chứng minh là bắt được đúng người. Biết người Á Đông cũng như các bậc vua chúa luôn trọng tình, nghĩa, trọng đạo “tam cương”, nên họ điều thầy giáo cũ của vua là Nguyễn Nhuận đến gặp. Khi gặp thầy giáo cũ Nguyễn Nhuận, vua Hàm Nghi liền đứng thẳng dậy vái tay chào. Từ đó, quân Pháp mới biết đích xác rằng người mà chúng bắt được chính là vị vua trẻ tuổi, yêu nước.

Tình thầy trò sở dĩ cao đẹp vì đó là thứ tình bất vụ lợi, họ đến với nhau bằng những tâm hồn trong sáng, không gợn một chút riêng tư, mỗi người cảm thấy vui khi làm vui lòng người khác. Trò đến với thầy vì lòng hiếu học, muốn tìm hiểu những tri thức mênh mông của loài người mà chỉ thầy mới có thể truyền thụ cho mình được. Thầy gần gũi trò, ngày ngày đem cái sở học của mình ra truyền lại cho đám môn sinh, trò lĩnh hội đến đâu thì thầy vui đến đó. Năm qua tháng lại, tình thầy trò ngày càng khắng khít như keo sơn, đến chết vẫn không phai nhạt.

Cách đây hơn 200 năm, ở thế kỉ XVIII, nhà giáo Võ Trường Toản, người thầy đầu tiên của đất Nam Bộ, nổi tiếng “học rộng, có tài thao lược và đức hạnh hơn người” đã nói đến trách nhiệm và vai trò của người làm nghề giáo, đó là : “Lương sư, hưng quốc”. Chính những vị “Lương sư” mang đủ những phẩm chất ấy mới có thể “trồng người” và tạo ra những thế hệ “hiền tài” - mà “hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, đi lên; nguyên khí suy thì thế nước yếu, đi xuống”. Họ chính là người giúp cho nền giáo dục đất nước phát triển.

Ở Tiền Giang xưa kia, trong số những lưu dân vào khai phá, có một số ít thầy đồ cũng vào. Tại đây, những thầy đồ này đã mở lớp dạy học tại nhà hoặc được người dân rước về để dạy con em mình. Từ năm 1820, chính quyền phong kiến bắt đầu quan tâm phát triển giáo dục ở vùng đất phía Nam, trong đó có Tiền Giang. Các trường học ở tỉnh, phủ, huyện được thành lập. Mặc dù là vùng đất mới, trường lớp còn ít ỏi nhưng số người đỗ đạt trong các khoa thi ở Tiền Giang chỉ đứng sau Gia Định. Theo tiến sĩ sử học Nguyễn Phúc Nghiệp: “Trong nửa đầu thế kỉ XIX, ở Tiền Giang, về học vị tiến sĩ có 2 vị:

1- Đinh Văn Minh thi đậu Phó bảng (Tiến sĩ Ất khoa) năm 1835;

2- Phan Hiển Đạo thi đậu Đồng tiến sĩ xuất thân/Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ Giáp khoa) năm 1856. Xét về số lượng người đậu tiến sĩ ở 6 tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), trong nửa đầu thế kỉ XIX, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang) có số người đậu nhiều nhất: 2 người, so với tỉnh Gia Định chỉ có 1 người (Nguyễn Chánh), tỉnh Vĩnh Long cũng chỉ có 1 người (Phan Thanh Giản), ba tỉnh Biên Hoà, An Giang và Hà Tiên không có ai cả” (2).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước bộn bề khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định 3 loại giặc cần phải loại bỏ: giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt. Vì lẽ đó, mà Người rất mực quan tâm đến giáo dục bởi “Vì lợi ích năm trồng cây, Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Để thực hiện thành công sự nghiệp trồng người thì vai trò của thầy, cô giáo là vô cùng quan trọng. Người khăng định: Người thấy giáo tốt - thầy xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất… Những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Người nói: Bây giờ, nhiệm vụ của giáo dục khác trước. Các cô các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: Bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau. Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới.

Ngày nay, thế giới đang chuyển mạnh sang thời đại kinh tế tri thức, thời đại kỹ thuật số, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào các lĩnh vực đời sống…, vai trò của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ ngày càng được coi trọng, theo đó địa vị của người thầy tiếp tục được đề cao. Đảng và Nhà nước ta đã xác định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”; trong đó rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của người giáo viên. Đặc biệt, ngày 15/6/2004, Ban Bí thư TƯ Đảng đã ra Chỉ thị số 40-CT/TƯ và ngày 11/1/2005, Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.

Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam nhắc lại lòng kính trọng của người xưa đối với người làm nghề dạy học để thầy được từ rất lâu, ở bất cứ nơi đâu, nghề dạy học cũng được mọi người tôn vinh, kính trọng. Dù cuộc sống có vần xoay thế nào đi nữa, thì xã hội vẫn luôn trân trọng, đề cao địa vị nhà giáo, đồng thời cũng luôn đặt ra những yêu cầu rất cao đối với nghề dạy học, nhất là về mặt đạo đức. Và hơn lúc nào hết, để góp phần cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước theo hướng đổi mới, hội nhập quốc tế, chúng ta luôn nỗ lực để xây dựng một đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đủ năng lực, phẩm chất, ra sức rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục còn bao khó khăn vất vả nhưng cũng hết sức vẻ vang.

-------------------------------------------

 (1) Trần Lê Sáng, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp[1]Ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997, trang 66

(2) Nguyễn Phúc Nghiệp, Những vị đỗ đại khoa ở Tiền Giang trong nửa đầu thế kỉ XIX, Trang Thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang, Thứ ba ngày 24/01/2023

LÊ QUANG HUY - Giáo viên Trường THCS Trừ Văn Thố


Xuất bản tin SGDDT Tiền Giang thực hiện