Nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu tối thiểu 40% đối tượng được khám sức khỏe, quản lý sức khỏe trước ngày 30/6/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường khẩn trương ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện công tác khám sức khỏe, quản lý sức khỏe người dân trên địa bàn năm 2026 theo nội dung chỉ đạo tại Công văn số 1712/UBND-KGVX.
Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường huy động các nguồn lực tổ chức thực hiện; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên phụ trách địa bàn, nhóm đối tượng, bảo đảm hoàn thành mục tiêu được giao. Chỉ đạo Trạm Y tế, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các đơn vị liên quan tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia khám sức khỏe; rà soát, lập danh sách đối tượng, tổ chức triển khai phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, phấn đấu đạt tỷ lệ tối thiểu 40% đối tượng theo quy định trước ngày 30/6/2026 theo chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy.
Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở Y tế, các địa phương và các đơn vị liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, vận động ngườisử dụng lao động, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tổ chức khám sức khỏe cho người lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Sở Giáo dục và Đào tạo khẩn trương ban hành Kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục phối hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các địa phương tổ chức khám sức khỏe cho trẻ em mầm non, học sinh, học viên theo quy định; hoàn thành trong tháng 6/2026 để phục vụ công tác quản lý sức khỏe học sinh.
Sở Y tế chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và ngoài công lập chủ động xây dựng kế hoạch tiếp nhận, phân luồng đối tượng khám sức khỏe; bố trí nhân lực, trang thiết bị, tổ chức các tổ, đội khám lưu động khi cần thiết; không để xảy ra tình trạng quá tải, ùn ứ khi người dân đến khám sức khỏe v.v..
|
Theo Kế hoạch 680/KH-UBND, từ năm 2026 triển khai cho các đối tượng ưu tiên theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ, cụ thể: người có công; người khuyết tật, bao gồm các đối tượng bảo trợ xã hội và người đang được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và tại các cơ sở trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người cao tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên; người sinh sống tại các xã đảo, các xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; người thử việc; người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; cán bộ, công chức, viên chức v.v. theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Cùng với đó, là các đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý; trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non, học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông; người mắc bệnh mạn tính và các đối tượng khác tuỳ theo khả năng cân đối ngân sách và nguồn huy động hợp pháp. |
>> Xem chi tiết Công văn 1796/UBND-KGVX
Nguyệt Ánh




Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc (0)
Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.