Tại Hội thảo quốc tế EPCCPL 2023 (Environmental Protection and Climate Change Policies and Law 2023), diễn ra vào ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại Thành phố Hồ Chí Minh, hội thảo với chủ đề: “Chính sách và pháp luật về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường 2023: Pháp luật quốc tế và quốc gia hướng đến giảm phát thải ròng bằng "0" - Quan điểm của các quốc gia đang phát triển”, đã đưa ra phát biểu nhấn mạnh rằng Việt Nam nằm trong số mười quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất từ biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn hiện nay biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức toàn cầu lớn nhất, tác động trực tiếp và gây tổn thất nặng nề đối với phát triển kinh tế, an sinh xã hội và trực tiếp đối với an toàn tính mạng, sức khỏe của người dân.
Kể từ khi thỏa thuận Paris được thông qua tại Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc 2015, đã tạo cơ sở cho việc phát triển cơ chế thị trường carbon, nhiều quốc gia đã và đang đẩy mạnh việc xây dựng thị trường này để cung cấp nguồn tài chính cho các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính. Việt Nam cũng đã và đang tham gia tích cực vào quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon trong nước, hướng tới sự hòa nhập với cả khu vực và thế giới. Đặc biệt, sau Hiệp ước khí hậu Glasgow 2021, cơ sở pháp lý quản lý tín chỉ các-bon và phân bổ hạn ngạch khí nhà kính được bổ sung với Nghị định 06/2022/NĐ-CP, Thông tư 01/2022/TT-BTNMT, Quyết định 59/QĐ-BTNMT và Quyết định 2626/QĐ-BTNMT bổ sung lộ trình, bộ thủ tục hành chính và danh mục hệ số phát thải làm cơ sở để kiểm kê, tổng hợp và phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Việt Nam đã bước đầu tham gia thị trường carbon bắt buộc thông qua một số chương trình, dự án, thỏa thuận giảm phát thải, trong đó đáng chú ý là Thỏa thuận giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA vùng Bắc Trung Bộ) giai đoạn 2018-2024 được ký giữa Việt Nam và Ngân hàng thế giới (WB) vào tháng 10/2020 với cam kết Việt Nam chuyển nhượng 10,3 triệu tấn CO2 cho WB, đơn giá 5 USD/tấn CO2, đạt tổng giá trị 51,5 triệu USD. Đầu tháng 8/2023, WB đã thanh toán tiền ERPA đợt một cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là 41,2 triệu USD (tương đương 997 tỉ đồng), đạt 80% kết quả giảm phát thải theo ERPA đã ký. Số tiền còn lại 10,3 triệu USD tương đương 249 tỉ đồng sẽ thanh toán sau khi hoàn thành việc chuyển giao 10,3 triệu tấn CO2. Đây được xem là dấu mốc đưa carbon rừng Việt Nam tiến vào thị trường bắt buộc. Có thể nhận thấy rằng tiềm năng thị trường và nhu cầu thương mại carbon từ rừng là khá lớn. Để thúc đẩy thị trường này, cả ở trong nước và quốc tế, cả thị trường bắt buộc và tự nguyện, Việt Nam cần phải chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết. Điều này sẽ giúp tận dụng mọi cơ hội có thể, đồng thời góp phần vào việc đạt được mục tiêu của Thỏa Thuận Paris cũng như tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận với nguồn tài chính quốc tế để thúc đẩy phát triển bền vững.
Để tham gia thị trường carbon, carbon rừng phải được tính toán dưới dạng tín chỉ carbon. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2022 định nghĩa: Tín chỉ các-bon là chứng nhận có thể giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải một tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc một tấn khí carbon dioxide (CO2) tương đương. Như vậy, tín chỉ carbon là giấy phép hoặc giấy chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc các loại khí nhà kính khác (CH4, N2O, HFCs, PFCs, SF6). Một tín chỉ carbon tương đương với một tấn CO2 (tCO2), hoặc một tấn khí nhà kính khác quy đổi ra một tấn CO2 gọi là một tấn CO2 tương đương viết tắt là tCO2e. Tín chỉ carbon được giao dịch, mua bán, chuyển nhượng trên thị trường thế giới.
Theo các chuyên gia, tham gia vào thị trường tín chỉ carbon vừa là cơ hội và cũng là thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam nhằm bắt nhịp thị trường trong nước và quốc tế đối với yêu cầu về sản xuất xanh, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển bền vững. Theo thống kê của Công ước khung Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu, Việt Nam đang đứng thứ 5 trong các nước tạo tín chỉ carbon. Việt Nam hiện có tới 14,7 triệu hécta, trong đó 70% diện tích là rừng tự nhiên. Đây là tiềm năng để thực hiện các hoạt động tăng cường trữ lượng carbon rừng theo cơ chế REDD+ và đăng ký ban hành tín chỉ carbon. Theo đánh giá, tiềm năng tạo tín chỉ carbon của nước ta ước tính 57 triệu tín chỉ. Nếu định giá 5 USD/tín chỉ có thể tạo thêm nguồn thu ngân sách mỗi năm hàng triệu USD.

Ảnh: Tổng diện tích rừng và tỷ lê che phủ rừng ở Việt Nam qua các năm
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Tham gia vào thị trường tín chỉ carbon đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp giảm phát thải và tăng cường sử dụng nguồn năng lượng tái tạo và hiệu suất cao. Điều này không chỉ tạo ra lợi ích cho môi trường mà còn giúp tăng cường vững chắc cho hệ thống sản xuất và kinh doanh của họ trong thời đại tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, việc tham gia vào thị trường tín chỉ carbon cũng mở ra cơ hội tiếp cận với nguồn tài chính quốc tế thông qua các dự án hỗ trợ giảm phát thải. Doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ các khoản đầu tư, vay vốn và tài trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà đầu tư có tâm huyết với phát triển bền vững.
Đối với chính phủ, thị trường tín chỉ carbon không chỉ là một công cụ để đạt được các cam kết quốc tế về giảm phát thải mà còn là một nguồn tài chính quan trọng để đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết như bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng tái tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng xanh.
Tuy nhiên, việc tham gia vào thị trường tín chỉ carbon cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp và chính phủ phải đối mặt với một số thách thức đáng kể. Một trong những thách thức lớn nhất là việc thúc đẩy sự thay đổi trong các quy trình sản xuất và hoạt động kinh doanh để giảm phát thải và tăng cường sử dụng nguồn năng lượng sạch. Điều này có thể đòi hỏi sự đầu tư lớn vào công nghệ và cơ sở hạ tầng, đồng thời yêu cầu sự cam kết lâu dài từ phía chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp.
Ngoài ra, việc quản lý và giám sát các dự án giảm phát thải cũng là một thách thức không nhỏ. Đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc đo lường, báo cáo và xác nhận lượng khí thải đã giảm có thể gặp phải nhiều khó khăn do yêu cầu kỹ thuật cao và cần sự hợp tác chặt chẽ từ tất cả các bên liên quan. Bên cạnh đó, mặc dù nội dung về tín chỉ carbon đã được đề cập tại các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là tại Nghị định 06/2022/NĐ-CP, tuy nhiên, vấn đề chuyển nhượng, mua bán tín chỉ carbon vẫn thiếu những quy định cụ thể để có thể thúc đẩy các tiến trình đàm phán thương mại. Những rào cản về chính sách và kỹ thuật như quyền carbon, cơ chế chia sẻ lợi ích và quy định rõ ràng về nghĩa vụ đóng góp cho mục tiêu “Đóng góp do quốc gia tự quyết định” vẫn còn tồn tại khiến nhiều dự án bị trì hoãn và chưa thể đăng ký, ban hành tín chỉ carbon.
Có thể nhận thấy trong bối cảnh đang đối mặt với những thách thức ngày càng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, thị trường tín chỉ carbon đã trở thành cơ hội và đồng thời cũng là thách thức đối với Việt Nam. Việc tham gia vào thị trường này không chỉ giúp đạt được các cam kết quốc tế về giảm phát thải mà còn mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính quốc tế và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon, cần có sự nỗ lực đồng thuận từ phía chính phủ, doanh nghiệp và các bên liên quan khác. Việt Nam cần phải đối mặt và vượt qua những thách thức như thúc đẩy sự thay đổi trong quy trình sản xuất, quản lý và giám sát các dự án giảm phát thải, cũng như xử lý các vấn đề kỹ thuật và chính sách còn tồn tại. Đồng thời, việc đảm bảo minh bạch và công bằng trong việc giao dịch tín chỉ carbon cũng là một yếu tố quan trọng để thị trường này phát triển bền vững.
Tài liệu tham khảo:
- Luật số 72/2020/QH14 của Quốc hội: Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/1/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn
- Bộ NN&PTNT, 2022. Quyết định số 2869/QĐ-BNN-TCLN ngày 27/7/2022 của Bộ NN&PTNT công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2021
- Trung tâm Con người và Thiên nhiên . Bản tin chính sách số 33.2023 .
- https://epccpl.uel.edu.vn/Environmental Protection and Climate Change Policies and Law 2023: International and National Legislation Reaching Net-Zero Emissions - the Perspective of Developing Countries” EPCCPL 2023, 2023.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Trúc – TT. Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ KHCN
Nguyễn Tri Thức thực hiện












