Chuyện về hai Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng

Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, tỉnh Đồng Tháp đã có hàng ngàn người vợ, người mẹ lặng lẽ nơi hậu phương, tiễn chồng, tiễn con lên đường ra trận. Cuộc đời mỗi Mẹ Việt Nam Anh hùng là một câu chuyện, một số phận riêng, nhưng có một điểm chung chính là đức hy sinh.

Có Mẹ tiễn một người con, có Mẹ tiễn hai, ba người con, thậm chí cả chồng và con đều không trở về. Nỗi đau cứ thế chồng chất qua năm tháng, âm thầm mà dai dẳng. Không ồn ào, cũng không kể công, các Mẹ đã gói trọn nỗi đau riêng vào lòng. Sự hy sinh thầm lặng, vô cùng to lớn, cao cả, thiêng liêng và kiên trung của các Mẹ đã tôn thêm những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, là những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho các thế hệ mai sau, đời đời ghi ơn và tri ân sâu sắc.

Gia đình mang dáng hình Tổ quốc

Gia đình của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hậu (sinh năm 1936, sống tại ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng, người dân địa phương gọi là Tư Hậu) là một trường hợp tiêu biểu như thế.

Ông Huỳnh Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp và lãnh đạo một số sở, ngành tỉnh đến thăm Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hậu nhân Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7

Cuộc đời Mẹ Hậu gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Nhưng điều khiến nhiều người nhắc đến gia đình Mẹ với tất cả sự trân trọng không chỉ là những mất mát riêng của Mẹ, mà còn bởi đây là một gia đình có đến 04 người được phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, gồm: Mẹ Nguyễn Thị Cho (là bà nội, có 02 người con trai là liệt sĩ), Mẹ Đoàn Thị Hương (là mẹ chồng, có 02 người con trai là liệt sĩ) và Mẹ Nguyễn Thị Thập, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (là cô ruột). Những mất mát nối tiếp nhau qua từng thế hệ, như những lớp sóng âm thầm dội vào cuộc đời của những người phụ nữ trong gia đình.

Năm nay, Mẹ Tư Hậu đã bước sang tuổi 90. Nhiều chuyện đã không còn nhớ rõ, nhưng mỗi khi nhắc về những năm tháng hào hùng, ký ức trong mẹ lại hiện lên rõ ràng, như chưa từng phai nhạt. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ sớm tham gia hoạt động từ năm 19 tuổi, làm giao liên tại địa phương. Năm 1959, mẹ bị địch bắt. Dù phải chịu nhiều đòn tra khảo của địch, mẹ vẫn một lòng giữ vững khí tiết của người cách mạng. Đến năm 1961, sau khi được địch thả, mẹ tiếp tục tham gia công tác quân báo của Tỉnh đội, sau đó chuyển về Quân khu. Trước đó, ngày 17/5/1959, mẹ đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, một dấu mốc thiêng liêng mà mẹ luôn khắc ghi trong tim.

Mẹ nhớ như in ngày đứng vào hàng ngũ của Đảng: “Do điều kiện chiến tranh, lại ở vùng địch tạm chiếm nên lễ kết nạp được tổ chức bên rặng trâm bầu. Dù diễn ra nhanh nhưng rất trang trọng. Khi đó, đồng chí Trần Văn Thời, Bí thư Chi bộ xã Long Hưng đọc quyết định, rồi mẹ đọc lời tuyên thệ. Mọi thứ đều diễn ra khẩn trương, bí mật, nhưng trong lòng mẹ dâng trào niềm tự hào”.

Chồng của mẹ là liệt sĩ Trần Hữu Tâm (sinh năm 1933), một chiến sĩ cách mạng thuộc một đơn vị của Quân khu. Nhắc về ngày cưới, giọng mẹ chùng xuống: “Lúc đó chiến tranh, đám cưới đơn sơ lắm, chỉ có hai bên gia đình chứng kiến rồi nên duyên vợ chồng. Xong đám cưới, ổng lại lên đường làm nhiệm vụ”.

Mẹ Tư Hậu có 08 người con. Trong đó, người con trai thứ hai là liệt sĩ Trần Hữu Trí đã theo cha tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Suốt 04 năm ròng rã, anh không một lần về thăm nhà vì hoàn cảnh chiến tranh và nhiệm vụ cách mạng. Mãi đến năm 1971, khi hai cha con chuyển về hoạt động trên địa bàn xã nhà, mẹ mới có dịp gặp lại con. Mẹ nghẹn ngào kể: “Khi hai cha con về tỉnh, mẹ chỉ kịp đến thăm được một lần… mà đâu ngờ đó lại là lần cuối cùng vợ chồng, mẹ con còn được gặp nhau”.

Cuối tháng 12/1971, địch tổ chức càn quét vào khu vực ấp Long Bình, xã Long Hưng nơi chồng và con mẹ đang đóng quân. Máy bay địch liên tục càn quét dữ dội. Mẹ đứng ngồi không yên nhưng không thể đến nơi vì sợ lộ, sợ bị phát hiện. “Sáng hôm sau, nghe đồng đội báo cha con nó hy sinh, thi thể được anh em giấu trong vườn hoang… Ruột gan mẹ như bị cắt thành từng khúc. Năm đó, Bé Ba mới 18 tuổi… đi 04 năm trời, chỉ gặp mẹ được đúng một lần…”, Mẹ nghẹn lại, ánh mắt xa xăm.

Chồng hy sinh, mẹ nén đau thương, biến mất mát thành động lực để tiếp tục cống hiến cho cách mạng. Bảy người con còn lại, mẹ gửi cho nội ngoại chăm sóc, để rồi mãi đến ngày đất nước hòa bình, gia đình mới được sum họp. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những vết hằn mất mát vẫn còn nguyên trong lòng mẹ. Nhìn quê hương, đất nước hôm nay đổi thay từng ngày, ánh mắt mẹ rưng rưng: “Đất nước mình hòa bình, ngày càng đổi mới, phát triển, mẹ mừng lắm. Mừng vì những hy sinh, xương máu của các thế hệ đi trước không uổng phí, được thế hệ hôm nay tiếp nối, phát huy. Nhưng mẹ cũng thương những đồng chí, anh em, cô bác, người thân đã hy sinh trước ngày hòa bình, không kịp nhìn thấy quê hương đổi thay… Mẹ tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các thế hệ hôm nay sẽ tiếp tục xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, để mọi người dân đều được sống ấm no, hạnh phúc như ước nguyện thiêng liêng của những người đã ngã xuống”.

Thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hậu

Lặng thầm của một người vợ, người mẹ

Trong căn nhà nhỏ ở khu phố Phong Thuận, phường Mỹ Phong, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ba năm nay đã 88 tuổi, ngồi lặng lẽ bên hiên, giọng chậm rãi, đứt quãng theo ký ức đã nhuốm màu thời gian. Câu chuyện về cuộc đời Mẹ không liền mạch theo năm tháng, chỉ còn lại những mảnh ghép rời rạc, nhưng vẫn đủ để khắc họa một cuộc đời nhiều hy sinh, mất mát.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phạm Thành Ngại tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ba

Mẹ Ba nhớ lại, những năm kháng chiến chống Mỹ, Mẹ không trực tiếp cầm súng nhưng vẫn tham gia công việc cách mạng. Ban ngày lo toan cuộc sống, đêm xuống, Mẹ nhận truyền đơn từ bộ đội rồi lặng lẽ đi rải khắp các tuyến đường. Chồng Mẹ là tiểu đội trưởng du kích. Tháng 7 năm 1966, ông bị địch bắn và hy sinh. Ngày hay tin chồng mất, Mẹ vẫn đang tất tả làm thuê ngoài đồng, cái nghèo và nỗi đau dồn dập, nhưng cũng không cho phép Mẹ dừng lại. Khi ấy Mẹ mới 26 tuổi, còn chồng chỉ vừa 28 tuổi. Ba đứa con nhỏ trở thành chỗ dựa duy nhất để Mẹ gượng dậy. Những năm tháng ấy, Mẹ kiên cường vượt qua, vừa làm mẹ, vừa làm cha.

Những năm tháng nuôi con, Mẹ Ba đi làm mướn, dặm lúa, cắt lúa, ai thuê gì làm nấy. Có lúc phải nhờ vào sự đùm bọc của gia đình chồng để vượt qua những ngày túng thiếu. Giữa những mất mát chồng chất ấy, Mẹ chưa từng một lần than vãn. Mọi điều được kể lại bằng giọng bình thản đến lạ, như thể nỗi đau đã lắng sâu đến mức không còn có thể gọi thành tên.

Nhng tưởng chiến tranh qua đi, mất mát sẽ dừng lại. Nhưng không. Nỗi đau của chiến tranh vẫn tiếp tục đeo đẳng cuộc đời Mẹ. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam n ra, người con trai lớn lên đường nhập ngũ. Sau ngày trở về, chưa kịp hưởng trọn niềm vui đoàn tụ, người con út - liệt sĩ Lương Thanh Hùng - tiếp bước người anh lớn lên đường làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia và rồi hy sinh trên đất bạn khi tuổi đời mới ngoài hai mươi. Mẹ nhớ không trọn vẹn năm tháng, nhưng nỗi đau thì vẫn nguyên vẹn. Hiện phần mộ người con út đang yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh. Trên bàn thờ liệt sĩ không có lấy một tấm di ảnh, chỉ có Bằng “Tổ quốc ghi công” và Huân chương Kháng chiến hạng Ba của người chồng lặng lẽ đặt cạnh nhau, như lời chứng nhận thiêng liêng cho sự hy sinh không thể đong đếm.

Người con thứ đã mất trong vụ tai nạn giao thông, người con lớn cũng vừa mất cách đây không lâu. Giờ đây, Mẹ Ba sống cùng gia đình người cháu nội. Những năm gần đây, Mẹ được Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (phường Mỹ Tho) nhận phụng dưỡng và chính quyền địa phương cũng thường xuyên quan tâm, chăm lo. Sự sẻ chia ấy phần nào làm ấm thêm tuổi già của người mẹ đã hiến dâng chồng, con - những người thân yêu nhất của mình cho độc lập, tự do Tổ quốc.

Câu chuyện của Mẹ Hậu và Mẹ Ba chỉ là những lát cắt nhỏ trong gần 140.000 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trên cả nước. Những mẹ nén đau thương, chặn dòng nước mắt cho những đứa con ra trận không về nữa. Sự hy sinh thầm lặng, cao cả, thiêng liêng của các Mẹ đã tôn lên phẩm chất, đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam “Bất khuất, anh hùng, trung hậu, đảm đang”, đó là những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Cao Thắng - Hà Nam

0 / 5 (0 đánh giá)

Ý kiến của bạn

Ý kiến bạn đọc (0)

Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.