Skip to Main Content
banner
  • TRANG CHỦ
  • Giới thiệu
    • Cơ cấu tổ chức
    • Thông tin liên hệ
  • Tin tức - sự kiện
    • Tin hoạt động ở Trung Ương
    • Tin hoạt động ở địa phương
    • Tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ
    • Bầu cử Đại biểu Quốc hội
  • Tài liệu tuyên truyền
    • Tài liệu sinh hoạt ngày pháp luật
      • Năm 2019
      • Năm 2020
      • Năm 2021
      • Năm 2022
      • Năm 2023
      • Năm 2024
      • Năm 2025
      • Năm 2026
    • Hỏi đáp - tư vấn
    • Tuyên truyền, phổ biến Luật đất đai 2024
    • Tin gọn bộ máy Nhà nước
  • Nghiên cứu - trao đổi
  • Hỏi đáp - tư vấn
  • Văn bản
  • Liên hệ
---, --/--/--, --:--:--
Nhiệt liệt hưởng ứng Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động và Tháng Công nhân năm 2026
Trang chủ
Giới thiệu nội dung văn bản
Nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Ngày 01/7/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 189/2025/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) về thẩm quyền xử phạt (XP) VPHC. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa, thống nhất, minh bạch hóa thẩm quyền xử phạt giữa các cấp, các ngành trong XPVPHC. Một số nội dung mới đáng chú ý của Nghị định, cụ thể như sau:

1. Quy định việc xác định thẩm quyền xử phạt[1], trong một số trường hợp:

- Đối với vụ việc vi phạm hành chính (VPHC) do người có thẩm quyền thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương đang thụ lý, giải quyết nhưng phải chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt:  Việc chuyển hồ sơ có thể được quy định cụ thể tại các nghị định quy định về XPVPHC trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, trường hợp không quy định tại các nghị định đó thì thực hiện theo thứ tự sau đây:

+ Người có thẩm quyền XPVPHC thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương;

+ Người có thẩm quyền XPVPHC cao nhất trong ngành, lĩnh vực quản lý hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm. Vụ việc VPHC có hành vi thuộc trường hợp tại điểm c khoản 4 Điều 52 của Luật XLVPHC[2] hoặc vụ việc có tang vật, phương tiện VPHC là bất động sản, tàu bay, tàu biển, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, các loại hàng hóa, phương tiện cồng kềnh, khó vận chuyển, chi phí vận chuyển cao thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

- Đối với vụ việc VPHC có nhiều hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau mà trong đó có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND:

+ Đối với những hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

+ Đối với những hành vi không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND thì xác định theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều 52 của Luật XLVPHC :

(i) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện VPHC bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người XPVPHC thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

(ii) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện VPHC bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người XPVPHC thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt.

- Quy định về thẩm quyền xử phạt đối với trường hợp áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành được xác định theo nguyên tắc sau đây:

+ Nếu người đang giải quyết vụ việc thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 và 17 của Nghị định này (gồm Thanh tra, Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Quản lý thị trường, Thuế, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy) có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC phụ thuộc vào thẩm quyền phạt tiền thì phải chuyển vụ vi phạm đến người có thẩm quyền xử phạt trong ngành, lĩnh vực đó có thẩm quyền tịch thu không phụ thuộc vào giá trị của tang vật, phương tiện VPHC;

+ Nếu người đang giải quyết vụ việc không thuộc trường hợp quy định nêu trên thì phải chuyển vụ vi phạm đến Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm;

+ Nếu người đang giải quyết vụ việc có căn cứ để xác định giá trị tang vật, phương tiện VPHC là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành, thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo quy định tại nghị định về XPVPHC trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

- Thẩm quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Luật XLVPHC.

​

2. Thay đổi, bổ sung, điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của các chức danh cụ thể

Nghị định đã quy định lại hoặc mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều chức danh, nổi bật gồm:

- Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương VPHC; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Chiến sĩ công an đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt.

- Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp đại đội có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và e khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Trưởng công an cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Chi cục trưởng Chi cục[3], Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực, Giám đốc Kho bạc Nhà nước khu vực, Giám đốc BHXH khu vực có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

- Giám đốc sở có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC.

Ngoài ra, Nghị định số 189/2025/NĐ-CP còn quy định thay đổi thẩm quyền của Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Quản lý thị trường, cơ quan Thuế, Kiểm lâm, Kiểm ngư, cơ quan Thi hành án dân sự[4].

3. Bổ sung thẩm quyền áp dụng hình thức phạt trục xuất đối với Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an cấp tỉnh.

4. Quy định về điều khoản chuyển tiếp[5]

Trong thời gian Chính phủ chưa ban hành nghị định để sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định về thẩm quyền XPVPHC tại các nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, thì việc xác định thẩm quyền XPVPHC của các chức danh được thực hiện như sau:

- Đối với chức danh có thẩm quyền XPVPHC đã được quy định tại nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước mà không thay đổi tên gọi và nhiệm vụ, quyền hạn hoặc có sự thay đổi tên gọi nhưng không thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn, thì tên gọi, thẩm quyền XPVPHC của chức danh đó được áp dụng theo tên gọi, thẩm quyền tương ứng quy định tại Nghị định này cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế.

- Đối với chức danh có thẩm quyền XPVPHC đã được quy định tại nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước mà có sự thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn, thì chức danh tiếp nhận nhiệm vụ, quyền hạn đó có thẩm quyền xử phạt. Tên gọi, thẩm quyền XPVPHC được áp dụng theo tên gọi, thẩm quyền tương ứng quy định tại Nghị định này cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế.

- Đối với chức danh chưa được quy định thẩm quyền XPVPHC tại nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nhưng được quy định thẩm quyền XPVPHC tại Nghị định này, thì thực hiện thẩm quyền XPVPHC trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý theo quy định tại Nghị định này cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế./.

Tuyết Ngân

 

[1] Điều 4 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

[2] Điểm c khoản 4 Điều 52

c) Nếu hành vi thuộc thẩm quyền XPVPHC của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

[3] Các Chi cục được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

[4] Từ Điều 9 đến Điều 16 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

[5] Điêu 21 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

Phổ biến giáo dục pháp luật

★ ★ ★ ★ ★
0 / 5 (0 đánh giá)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Tới trang của 1 204

Ý kiến của bạn

Ý kiến bạn đọc (0)

Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.

Thông tin độc giả

Chữ để nhận dạng Tải lại ảnh số
Tin mới
01
Đầu tư xử lý bất cập an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
02
Đồng Tháp: Hưởng ứng Ngày Sáng tạo và Đổi mới sáng tạo thế giới 21/4
03
Phường Gò Công tổ chức Hội Nghị triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
04
Đồng Tháp tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai các luật, nghị quyết mới được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10
05
Đồng Tháp: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh triển khai kế hoạch hoạt động năm 2026
06
Đồng Tháp: Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tăng cường các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
07
Đồng Tháp tăng cường thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TTg về đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá
08
Phòng, chống và kiểm soát ma túy là phòng ngừa hiểm họa đối với cá nhân, gia đình và xã hội
09
Ngày 15 tháng 03 năm 2026, Ngày hội của toàn dân
10
Ngày 15 tháng 3 năm 2026 Cử tri cả nước tích cực tham gia bầu cử
Xem thêm

Trang Thông tin điện tử phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Đồng Tháp

http://pbgdpl.dongthap.gov.vn

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp Đồng Tháp (thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh Đồng Tháp)

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Địa chỉ: 381 Hùng Vương, phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp

Điện thoại: 0733.88.76.76, email: http://pbgdpl.dongthap.gov.vn

Người chịu trách nhiệm: ông Phạm Công Hùng - Giám đốc Sở Tư pháp Đồng Tháp