Ngày 09/7/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 200/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 200/2025/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 23/8/2025. Việc ban hành Nghị định nhằm cụ thể hóa các nội dung được quy định trong Luật Phòng thủ dân sự, đồng thời bảo đảm tổ chức triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ và hiệu quả các quy định của Luật trong thực tiễn.
Phòng thủ dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố, thảm họa; góp phần bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, bảo đảm ổn định xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước. Trên cơ sở đó, Nghị định số 200/2025/NĐ-CP được ban hành nhằm quy định chi tiết một số nội dung trọng tâm của Luật Phòng thủ dân sự, bao gồm: thông tin về sự cố, thảm họa; cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng thủ dân sự; lực lượng phòng thủ dân sự; công trình phòng thủ dân sự; trình tự, thủ tục ban bố và bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự; công tác thống kê, đánh giá thiệt hại; huy động, vận động đóng góp tự nguyện và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ; quỹ phòng thủ dân sự; nội dung chi ngân sách cho hoạt động phòng thủ dân sự; chế độ, chính sách đối với lực lượng tham gia phòng thủ dân sự. Một số nội dung mới đáng chú ý của Nghị định, như sau:
1. Quy định số điện thoại tiếp nhận thông tin và nội dung thông tin về sự cố, thảm họa
Nghị định quy định số điện thoại 112 thống nhất trên toàn quốc tiếp nhận nội dung thông tin về sự cố, thiên tai, thảm họa, những nguy cơ xảy ra, yêu cầu trợ giúp của tổ chức, cá nhân. Tổng đài 112 được đặt tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung tiếp nhận thông tin bao gồm: tên cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin; thời gian, địa điểm xảy ra sự cố, thảm họa; diễn biến, phạm vi ảnh hưởng, khả năng lan rộng; những yêu cầu trợ giúp và thông tin cần thiết khác phục vụ công tác ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
Hệ thống Tổng đài 112 tiếp nhận thông tin từ các nguồn: (1) tổ chức, cá nhân; (2) Hệ thống Tổng đài 113, 114, 115; (3) Hệ thống thông tin liên lạc khác phục vụ trong lĩnh vực phòng thủ dân sự.
Hệ thống Tổng đài 112 hoạt động 24 giờ tất cả các ngày miễn phí cước gọi từ thuê bao điện thoại cố định, di động vào số điện thoại 112, lưu trữ tất cả các cuộc gọi đến để phục vụ công tác kiểm tra, nghiên cứu, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng thủ dân sự.
2. Hệ thống hóa cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và lực lượng phòng thủ dân sự
Nghị định số 200/2025/NĐ-CP đã kiện toàn hệ thống cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và lực lượng phòng thủ dân sự từ cấp quốc gia đến cơ sở, xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu, tổ chức. Theo đó, bao gồm:
- Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia là tổ chức phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ thành lập, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, có chức năng tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động phòng thủ dân sự trên phạm vi cả nước;
- Các Bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ thành lập Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp bộ.
- Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thành lập, có chức năng tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý.
- Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã do Chủ tịch UBND cấp xã thành lập, có chức năng tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức, chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý.
Song song đó, có lực lượng phòng thủ chuyên trách gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Xây dựng; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Lực lượng y tế thuộc bộ, ngành, địa phương; Lực lượng chuyên ngành ứng phó sự cố tràn dầu thuộc Tập đoàn công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam; Lực lượng chuyên ngành cấp cứu mỏ thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; các bộ, UBND cấp tỉnh. Lực lượng phòng thủ dân sự kiêm nhiệm bao gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các bộ, ngành trung ương và cơ quan ngang bộ; các địa phương.
3. Xác định và quản lý công trình phục vụ phòng thủ dân sự
Các công trình như hầm trú ẩn, kho dự trữ quốc gia, hệ thống cảnh báo thiên tai, khu neo đậu tàu thuyền, đường cứu nạn… được liệt kê rõ là công trình phòng thủ dân sự chuyên dụng. Ngoài ra, còn có công trình do Nhà nước, tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý hoặc các kiến tạo tự nhiên có thể sử dụng vào mục đích phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
Nghị định còn quy định ba cấp độ phòng thủ dân sự tùy theo mức độ sự cố, thảm họa và khả năng ứng phó tại các cấp chính quyền, từ xã đến trung ương; việc ban bố và bãi bỏ từng cấp độ đều được quy định rõ ràng; quy định quỹ phòng thủ dân sự hỗ trợ nhanh chóng các hoạt động phòng ngừa, ứng phó, cứu trợ và khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa. Nghị định còn quy định chi tiết các chế độ tiền lương, phụ cấp, bồi dưỡng, bảo hiểm và hỗ trợ cho những người tham gia trực tiếp vào công tác phòng thủ dân sự, bao gồm cả người dân, cán bộ và lực lượng vũ trang…
Nghị định số 200/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự đã cụ thể hóa các quy định của luật, đồng thời góp phần nâng cao tính chủ động, hiệu quả trong công tác phòng thủ dân sự. Việc ban hành Nghị định này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường năng lực ứng phó với thiên tai, thảm họa; bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân; giữ vững ổn định xã hội trong mọi tình huống; đồng thời gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện./.
Như Hảo
Phổ biến giáo dục pháp luật








Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc (0)
Chưa có ý kiến nào cho bài viết này.