Skip to Main Content
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Hệ thống tổ chức
    • Tư liệu truyền thống
      • VKSND tỉnh Tiền Giang (trước sát nhập)
      • VKSND tỉnh Đồng Tháp (trước sát nhập)
  • Tin tức - sự kiện
    • Thời sự
    • Hoạt động ngành kiểm sát
    • VKSND tỉnh Đồng Tháp
    • Đời sống - pháp luật
    • Người tốt việc tốt
    • Video
  • Nghiệp vụ kiểm sát
    • Nghiên cứu - trao đổi
    • Hướng dẫn nghiệp vụ
    • Thông báo rút kinh nghiệm
  • Đảng - Đoàn thể
    • Đảng ủy
    • Công đoàn
    • Đoàn thanh niên
    • Hội luật gia
    • Hội cựu chiến binh
    • Nữ công
    • Chuyên mục Búa liềm vàng
  • Thi đua - Khen thưởng
    • Văn bản thi đua, khen thưởng
    • Kết quả xét thi đua, khen thưởng
  • Chuyển đổi số
    • Công nghệ
  • Văn bản
    • Tài chính - Kế toán
    • Thông báo
  • Liên hệ
---, --/--/--, --:--:--
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Trang chủ
Nghiên cứu - trao đổi
Bàn về vấn đề phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Chia sẻ Phóng to Thu nhỏ In

Bàn về vấn đề phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng đặt cọc...

= = =

Hợp đồng đặt cọc là một loại giao kết phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội. Trên góc độ giao dịch kinh tế, đặt cọc được sử dụng phổ biến do sự đơn giản, cũng như chức năng của đặt cọc tạo ra sự cam kết nghiêm túc, giúp giảm thiểu rủi ro cho cả người mua và người bán, có thể được các bên thỏa thuận sử dụng không những như một biện pháp nhằm bảo đảm việc giao kết hợp đồng mà còn là dưới tư cách của một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.  

          Trên góc độ pháp lý, tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng."


ảnh minh hoạ (nguồn Internet)

Mặc dù được sử dụng phổ biến trong các giao dịch dân sự nhưng không phải tất cả các bên tham gia giao dịch đặt cọc đều hiểu biết, nắm rõ các vấn đề pháp lý liên quan của chế định đặt cọc. Đặc biệt trong vấn đề về hợp đồng đặt cọc và thỏa thuận phạt vi phạm thường dễ phát sinh tranh chấp, theo đó Bộ luật dân sự năm 2015 quy định Điều 418 về "Thỏa thuận phạt vi phạm" như sau:

"1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm."

Để làm rõ vấn đề liên quan đến Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc, đặt ra tình huống pháp lý sau:

Vào ngày 22/02/2024 bà A và ông B thống nhất làm giấy xác nhận Đặt cọc tiền đất theo đó: bà A đồng ý mua, ông B đồng ý bán thửa đất có diện tích 1.800m2.

Về nội dung: Ông B đã đồng ý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nêu trên với số tiền 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Ông B cam kết phần đất ông đứng tên không tranh chấp và đó là tài sản do ông quyết định.

Ông B đã nhận 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) tiền đặt cọc. Hai bên thỏa thuận sẽ thanh toán phần còn lại khi thực hiện thủ tục sang tên giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua tên bà A, khi ấy bà A sẽ đưa đủ tiền cho ông B.

Bên ông B có trách nhiệm làm tất cả thủ tục pháp lý về việc chuyển nhượng đất từ ông B cho bên bà A. Trong trường hợp cần đôi bên hỗ trợ, bên bà A có trách nhiệm đưa tiền cho ông B. Nếu bên ông B nhận tiền cọc rồi mà không thực hiện đúng hợp đồng thì phải đền gấp đôi. Còn nếu bên bà A không đưa tiền đúng như hợp đồng thì xem như mất cọc.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng nếu có gì khó khăn hai bên cùng nhau bàn bạc thỏa thuận trên tinh thần hợp tác giúp đỡ tôn trọng để cùng nhau đi đến kết quả tốt đẹp.

Về hình thức: Thỏa thuận này được lập thành 02 bản (mỗi bản có 02 trang) và  có giá trị pháp lý như nhau. Nếu ai sai phạm phải chịu bị xử lý của pháp luật. Hai bên đã đọc ký và hiểu rõ trong hợp đồng lúc tinh thần tỉnh táo nhất, 2 bên thống nhất đồng ý ký tên và điểm chỉ tay.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà A phát hiện trước đó, ông B đã chuyển nhượng cho người khác diện tích đất 250m2 trong diện tích đất mà hai bên thỏa thuận chuyển nhượng. Do đó bà A khởi kiện yêu cầu ông B trả tiền cọc và bồi thường 700.000.000 đồng tiền phạt cọc.

Phía ông B cho rằng trước khi giao kết hợp đồng đặt cọc ông B đã gửi cho bà toàn bộ thông tin thửa đất, đã chụp hình và gửi qua Zalo cho bà A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có điều chỉnh ở trang 04 thể hiện việc chuyển nhượng 250m2 đất trước đó, ngoài ra hợp đồng đặt cọc do phía ông B soạn thảo bà A chỉ ký tên nên không đồng ý trả tiền phạt cọc.

Vấn đề đặt ra ở đây là ông B có phải chịu phạt cọc không?

Quan điểm thứ nhất, ông B không phải chịu tiền phạt cọc bởi lẽ ông B đã cung cấp đầy đủ thông tin thửa đất cho bà A để bà soạn thảo hợp đồng đặt cọc. Việc bà A thể hiện diện tích đất chuyển nhượng trong hợp đồng đặt cọc là 1.800m2 nhưng thửa đất đã chuyển nhượng trước đó 250m2, sau đó bà A và ông B cùng ký hợp đồng này có lỗi một phần của ông B và một phần là lỗi của bà A về việc không xác định rõ ràng diện tích đất được chuyển nhượng. Do cả hai cùng có lỗi dẫn đến hợp đồng không thực hiện được nên ông B không phải chịu phạt cọc.

Quan điểm thứ hai, ông B phải chịu tiền phạt cọc bởi lẽ ông B là chủ của thửa đất, là người biết rõ toàn bộ thông tin của thửa đất nhưng ông B lại ký tên vào hợp đồng đặt cọc thể hiện nội dung chuyển nhượng diện tích đất 1.800m2 trong khi trước đó ông B đã chuyển nhượng 250m2 của phần đất này. Ông B tham gia giao kết hợp đồng có trách nhiệm đọc rõ thông tin trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm đối với các thông tin này. Do đó ông B có trách nhiệm chịu tiền phạt cọc do vi phạm dẫn đến việc không thực hiện được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Các tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, rất mong nhận được ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp để bản thân được học hỏi thêm kinh nghiệm.


Mỹ Tiên, Lan Phương – VKSND khu vực 3 thực hiện

Tin tức khác

  • Dự thảo quy định mới về xử lý nợ xấu liên quan đến nhà ở, công cụ lao động (22/09/2025 12:00)
  • Trao đổi về việc xử lý hành vi của Nguyễn Văn A trong vụ việc tàng trữ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (15/09/2025 12:00)
  • Cần phân biệt hợp đồng vô hiệu và hủy hợp đồng trong giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại (15/09/2025 12:00)
  • Bàn về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với Quyết định, hành vi tố tụng của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra (14/09/2025 12:00)
  • Bàn về việc chuyển vụ việc, vụ án theo thẩm quyền (10/09/2025 12:00)
  • VKSND tỉnh Đồng Tháp ban hành kiến nghị phòng ngừa hướng đến bảo vệ trẻ em trong môi trường giáo dục mầm non (10/09/2025 12:00)
  • Các biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật tư pháp người chưa thành niên (09/09/2025 12:00)
  • Trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị việc dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (09/09/2025 12:00)
  • Quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ hình thức trước ngày 01/01/2017 – áp dụng điều 129 BLDS năm 2015 để giải quyết tranh chấp (09/09/2025 12:00)
Văn bản chỉ đạo - điều hành
Nghị định 114/2024/NĐ-CP ngày 15/9/2024 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Có hiệu lực kể từ ngày 30/10/2024.
Công khai thực hiện dự toán thu - chi ngân sách Quí I năm 2024
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2023
Tổng hợp thành tích tập thể và cá nhân của các đơn vị từ năm 1999-2023
Quyết định về việc công bố công khai kế hoạch đầu tư vốn Ngân sách Nhà nước năm 2024
Quyết định công bố công khai dự toán chi ngân sách nhà nước 2024
Về việc công bố công khai quyết toán chi ngân sách Nhà nước năm 2022
Hưởng ứng tham gia Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia "Tổ quốc bên bờ sóng" lần thứ II
Công khai điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước năm 2023
Quyết định 126/QĐ-TANDTC 2023 Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực của Tòa án nhân dân tối cao
Xem thêm >>
Liên kết

Thống kê lượt truy cập

💬 Trợ lý ảo VKSND tỉnh Đồng Tháp

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Cơ quan chủ quản: Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Đồng Tháp

Người chịu trách nhiệm: Ông Phạm Xuân Minh, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Tháp

Địa chỉ: Số 32 Lê Lợi, Phường Mỹ Tho, Tỉnh Đồng Tháp

Điện thoại: 0273.387.4420- Fax: 0273.3870328