Trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị việc dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015...
= = =
Trong tố tụng dân sự, cùng với vụ án dân sự, việc dân sự là một lĩnh vực quan trọng được Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. BLTTDS năm 2015 đã có nhiều đổi mới so với BLTTDS năm 2004, nhưng vẫn còn những khoảng trống pháp lý cần được tiếp tục hoàn thiện.

1. Quy định của BLTTDS năm 2015 về kháng cáo, kháng nghị việc dân sự
1.1. Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị
- Kháng cáo: Thời hạn được nâng từ 7 ngày (BLTTDS 2004) lên 10 ngày (BLTTDS 2015) kể từ ngày ra quyết định; trường hợp đương sự vắng mặt thì tính từ ngày nhận quyết định hoặc ngày được thông báo, niêm yết (Điều 372).
- Kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thời hạn 15 ngày (Điều 372).
Việc kéo dài thời hạn kháng cáo, kháng nghị bảo đảm đương sự có đủ thời gian cân nhắc, thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, Điều 372 BLTTDS năm 2015 không có quy định về kháng cáo quá hạn. Thiết nghĩ, nếu các đương sự trong vụ án dân sự được kháng cáo quá hạn thì đương sự trong việc dân sự cũng được quyền kháng cáo quá hạn để đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong vụ án dân sự và việc dân sự.
1.2. Về chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị
Điều 373 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định về chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị nhằm tạo điều kiện cho các Tòa án áp dụng một cách thống nhất cũng như đảm bảo Tòa án giải quyết việc dân sự chính xác, đúng pháp luật. Tuy nhiên, luật chưa quy định về thời hạn thụ lý giải quyết kháng cáo việc dân sự và hệ thống mẫu biểu Ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) không có mẩu thông báo về việc thụ lý giải quyết kháng cáo việc dân sự.
Thời hạn chuẩn bị chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị Thẩm phán căn cứ vào khoản 2 Điều 373 BLTTDS năm 2015 và Điều 361 BLTTDS năm 2015 để thực hiện các công việc chuẩn bị cho việc mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự và Tòa án ra một trong các quyết định sau:
- Quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị;
- Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
Tuy nhiên, Điều 373 BLTTDS năm 2015 chưa quy định về nội dung quyết định mở phiên họp phúc thẩm. Điều này dẫn đến đương sự muốn thực hiện quyền thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký phiên họp trước khi mở phiên họp cũng không thực hiện được bởi không biết nội dung quyết định mở phiên họp. Do đó, căn cứ vào Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần hướng dẫn quyết định mở phiên họp phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 290 BLTTDS năm 2015.
Ngoài ra, trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có được ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm không? Có được ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm trên cơ sở các căn cứ khác không (người yêu cầu rút yêu cầu…)? Về vấn đề này, căn cứ Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần có hướng dẫn việc ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm, tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án áp dụng những quy định về việc đình chỉ, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự để thực hiện.
1.3. Thành phần tham gia phiên họp phúc thẩm
Điều 374 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định về những người tham gia phiên họp nhằm tạo điều kiện cho các Tòa án áp dụng một cách thống nhất cũng như đảm bảo quyền tham gia phiên họp của các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Giống như phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật thì Viện kiểm sát tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, khi kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Để tránh phiên họp phúc thẩm bị hoãn nhiều lần, nhanh chóng giải quyết kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì khoản 2, 3 Điều 374 BLTTDS năm 2015 quy định:
- Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ.
- Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với yêu cầu kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch mà vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hay vẫn tiến hành phiên họp.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 374 BLTDS năm 2015 chưa giải quyết được một số vấn đề sau:
- Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp;
- Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt nhưng có người đại diện thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp;
- Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp.
- Người kháng cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều là các đương sự trong việc dân sự. Nhưng người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ hoãn phiên họp phúc thẩm còn người có liên quan vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng thì vẫn có thể tiến hành họp. Điều này là không đảm bảo sự bình đẳng về quyền tham gia phiên họp giữa các đương sự trong việc dân sự.
- Nếu phiên họp có sự tham gia của người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng những người này lại vắng mặt khi được Tòa án triệu tập hợp lệ thì Tòa án có hoãn phiên họp phúc thẩm không hay vẫn giải quyết việc dân sự vắng mặt họ.
Trong các trường hợp này, Tòa án áp dụng Điều 363 BLTTDS năm 2015 để vận dụng các quy định về việc hoãn phiên tòa phúc thẩm để giải quyết. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc giải quyết việc dân sự thì TANDTC cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng đảm bảo quyền tham gia phiên họp phúc thẩm của các đương sự.
1.4. Thủ tục phiên họp phúc thẩm
Điều 318 BLTTDS năm 2004 chỉ quy định là thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự được thực hiện như thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về vụ án dân sự bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 đã quy định riêng thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị đối với việc dân sự, không còn quy định tương tự như thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự. Quy định này là hợp lí vì bản chất vụ án dân sự và việc dân sự là khác nhau nên thủ tục khi giải quyết cũng không giống nhau. Theo Điều 375 BLTTDS năm 2015 thì thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm được quy định cụ thể, chi tiết hơn. Do thành phần tham gia phiên họp phúc thẩm theo BLTTDS năm 2015 có thay đổi nên trình tự tiến hành phiên họp cũng được bổ sung. Theo đó, Thư ký phiên họp báo cáo sự có mặt của nhưng người tham gia phiên họp. Sau đó Thẩm phán chủ tọa sẽ khai mạc phiên họp, kiểm tra sự có mặt của người tham gia và giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Tiếp đó là những người tham gia phiên họp là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo, người kháng cáo hoặc đại diện của họ, kiểm sát viên trình bày nội dung kháng cáo, kháng nghị và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích của họ được triệu tập trình bày ý kiến về nội dung bị kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Việc để cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp trình bày ý kiến là đúng đắn không chỉ giúp Tòa án có cái nhìn khách quan, tổng thể để đưa ra quyết định chính xác mà còn phát huy quyền dân chủ của công dân. Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 cũng quy định kiểm sát viên ngoài phát biểu ý kiến tại phiên họp phúc thẩm còn phải gửi văn bản phát biểu ý kiến sau khi kết thúc phiên họp.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 375 BLTTDS năm 2015, thì Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị ngoài các quyền ra các quyết định tại khoản 5 Điều 280 BLTTDS năm 2011 còn được quyền ra các quyết định sau:
- Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
- Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị.
Quy định mới này giúp Hội đồng phúc thẩm có cơ sở pháp lý để áp dụng khi tiến hành phiên họp tránh tình trạng lúng túng khi người kháng cáo, kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, TANDTC cần có hướng dẫn cụ thể khi nào thì Hội đồng phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự.
Ngoài ra, tương tự như quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự thì quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 BLTTDS năm 2015. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhằm công khai, minh bạch các quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án.
Tóm lại, quy định của BLTTDS năm 2015 về kháng cáo việc dân sự đã có bước tiến so với BLTTDS 2004, đặc biệt ở thời hạn kháng cáo, kháng nghị và thủ tục phiên họp phúc thẩm. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống pháp lý như đã phân tích nêu trên gây khó khăn trong áp dụng. Việc sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cần thiết để đảm bảo tính khả thi, thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn tố tụng.
Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên phòng 9 thực hiện




