= = =
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các giao dịch dân sự, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là số lượng tranh chấp hợp đồng phát sinh ngày càng nhiều. Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp cho thấy, không ít vụ án dân sự có yêu cầu hủy hợp đồng nhưng lại tồn tại yếu tố làm cho hợp đồng vô hiệu. Việc phân định rõ ràng giữa hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu không chỉ mang ý nghĩa lý luận quan trọng mà còn bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong áp dụng pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Bài viết này phân tích, so sánh các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, tránh áp dụng pháp luật không đúng hoặc gây thiệt hại cho các bên liên quan.

ảnh minh hoạ (nguồn Internet)
Thời gian qua, tranh chấp hợp đồng là loại án phát sinh chiếm tỷ lệ cao trong các tranh chấp mà Tòa án đã thụ lý, giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thường khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng. Việc hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu có sự kiện pháp lý và hậu quả pháp lý khác nhau được quy định riêng biệt trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp đương sự yêu cầu hủy hợp đồng, Tòa án tuyên hủy hợp đồng đối với những trường hợp hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Sự giống nhau của việc hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho phía bên kia.
Tuy nhiên, sự kiện pháp lý để dẫn đến hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu khác nhau, đồng thời, giải quyết việc bồi thường thiệt hại cũng khác nhau.
Thứ nhất, đối với hủy hợp đồng, được quy định từ Điều 423 đến Điều 426 BLDS năm 2015.
Tại Điều 423 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
c) Trường hợp khác do luật quy định.
3. Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”.
Từ quy định trên cho thấy, trường hợp hủy bỏ hợp đồng là trường hợp hợp đồng được thực hiện giữa các bên về hình thức và nội dung hợp đồng đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện, một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng. Ví dụ: A bán cho B 01 chiếc xe ô tô, giá 500 triệu đồng, B đã trả tiền cho A được 400 triệu đồng, A đã giao xe cho B quản lý, hẹn 01 tháng sau A sẽ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe cho B và B trả hết số tiền còn lại. Quá thời hạn 01 tháng A không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu chiếc xe cho B. B khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng mua bán xe giữa A và B, buộc A trả lại cho B số tiền 400 triệu đồng, B trả xe lại cho A, buộc A bồi thường thiệt hại cho B do A vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Có 03 trường hợp hủy bỏ hợp đồng:
- Trường hợp thứ nhất, hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ, là trường hợp một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia phải yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong thời gian hợp lý mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng.
- Trường hợp thứ hai là hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện, là trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp cuối cùng là trường hợp hủy bỏ hợp đồng do tài sản bị mất, bị hư hỏng.
Việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng được quy định tại Điều 427 BLDS năm 2015. Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần phải xác định lỗi dẫn đến hủy hợp đồng và việc một bên vi phạm nghĩa vụ cho bên kia dẫn đến bên kia bị thiệt hại, thiệt hại này phải được chứng minh là thiệt hại trong thực tế. Đối với hủy hợp đồng, việc xác định thiệt hại cũng là vấn đề khó khăn khi giải quyết tranh chấp. Hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về bồi thường thiệt hại khi giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Thứ hai, đối với hợp đồng vô hiệu, được quy định từ Điều 122 đến Điều 133 BLDS năm 2015
Hợp đồng vô hiệu là giao dịch dân sự giữa các chủ thể không đảm bảo các điều kiện của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Theo quy định của pháp luật, hợp đồng vô hiệu trong các trường hợp sau: Vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; Vô hiệu do giả tạo; Vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; Vô hiệu do bị nhầm lẫn; Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; Vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức; Vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
Về hậu quả pháp lý: Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu:
Đối với hợp đồng vô hiệu do giả tạo, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì không bị hạn chế.
Đối với các hợp đồng vô hiệu thuộc các trường hợp khác là 02 năm kể từ ngày: Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức. Hết thời hiệu trên mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
Điểm khác nhau cơ bản của hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu là đối với hủy hợp đồng thì hợp đồng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, tức là nội dung hợp đồng không vi phạm quy định của luật, không trái đạo đức xã hội, các bên xác lập hợp đồng đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, không bị nhầm lẫn, đối tượng của hợp đồng hoàn toàn có thể thực hiện được, về hình thức hợp đồng tuân thủ đúng hình thức theo quy định pháp luật. Đối với hợp đồng vô hiệu là hợp đồng mà các bên xác lập hợp đồng thuộc các trường hợp vô hiệu do pháp luật quy định nêu trên. Ngoài ra, về thời hiệu khởi kiện hai loại tranh chấp cũng khác nhau như đã phân tích trên.
Từ những phân tích trên cho thấy, sự kiện pháp lý và hậu quả pháp lý của hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu khác nhau. Do đó, khi đương sự khởi kiện tranh chấp hợp đồng và yêu cầu hủy hợp đồng và giải quyết hậu quả của hủy hợp đồng thì chúng ta phải xem xét nội dung và hình thức của hợp đồng có đúng quy định của pháp luật không, hợp đồng có bị vô hiệu theo quy định của pháp luật không. Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì đề nghị tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, chứ không tuyên hủy hợp đồng theo yêu cầu của đương sự.
Hủy hợp đồng và hợp đồng vô hiệu đều dẫn đến tình trạng hợp đồng không còn giá trị pháp lý, song bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng và hậu quả pháp lý của hai chế định này hoàn toàn khác nhau. Việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm sẽ dẫn tới áp dụng sai quy định pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án cần xem xét kỹ lưỡng điều kiện có hiệu lực của giao dịch, phân biệt rõ nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu hay bị hủy, từ đó lựa chọn hướng giải quyết đúng đắn. Đồng thời, cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp hủy hợp đồng để việc áp dụng pháp luật thống nhất, góp phần bảo vệ trật tự giao dịch dân sự và tạo niềm tin cho các chủ thể trong hoạt động kinh tế - xã hội./.
Dương Thanh Quang – Phó Trưởng phòng 10 VKSND tỉnh Đồng Tháp thực hiện




