Skip to Main Content
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Hệ thống tổ chức
    • Tư liệu truyền thống
      • VKSND tỉnh Tiền Giang (trước sát nhập)
      • VKSND tỉnh Đồng Tháp (trước sát nhập)
  • Tin tức - sự kiện
    • Thời sự
    • Hoạt động ngành kiểm sát
    • VKSND tỉnh Đồng Tháp
    • Đời sống - pháp luật
    • Người tốt việc tốt
    • Video
  • Nghiệp vụ kiểm sát
    • Nghiên cứu - trao đổi
    • Hướng dẫn nghiệp vụ
    • Thông báo rút kinh nghiệm
  • Đảng - Đoàn thể
    • Đảng ủy
    • Công đoàn
    • Đoàn thanh niên
    • Hội luật gia
    • Hội cựu chiến binh
    • Nữ công
    • Chuyên mục Búa liềm vàng
  • Thi đua - Khen thưởng
    • Văn bản thi đua, khen thưởng
    • Kết quả xét thi đua, khen thưởng
  • Chuyển đổi số
    • Công nghệ
  • Văn bản
    • Tài chính - Kế toán
    • Thông báo
  • Liên hệ
---, --/--/--, --:--:--
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Trang chủ
Nghiên cứu - trao đổi
Trao đổi về việc xử lý hành vi của Nguyễn Văn A trong vụ việc tàng trữ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy
Chia sẻ Phóng to Thu nhỏ In

= = =

 Trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, nhiều vụ việc phát hiện đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng có dính ma túy, song khối lượng không xác định được. Đây là tình huống thường gây khó khăn trong việc định tội danh. Trong trường hợp, khi kiểm tra hành chính tại nhà Nguyễn Văn A, thuộc ấp 2, xã X, tỉnh ĐT ngày 02/8/2025. Phát hiện Nguyễn Văn A khai đã sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà, cùng với vật chứng mà A cất giữ 08 nỏ thủy tinh, trong đó có 03 nỏ đã bể, bên trong còn dính chất màu trắng được giám định là Methamphetamine, nhưng không xác định được khối lượng.


ảnh minh hoạ (nguồn Internet)

Câu hỏi đặt ra: Hành vi của A có cấu thành tội phạm hay không và nếu có thì thuộc tội danh nào?

Căn cứ pháp lý liên quan:

- Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy – yêu cầu phải xác định được định lượng từ 0,1 gam Methamphetamine trở lên.

- Điều 254 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sản xuất dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.

- Điều 256a Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực 01/7/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự: Tội sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng trong những trường hợp đặc biệt, được quy định từ điểm a đến điểm d của khoản 1 Điều này.

- Văn bản số 3007/C04-P2 ngày 11/7/2025 của Bộ Công an: Thống nhất áp dụng Điều 256a Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực 01/7/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự.

- Văn bản số 3933/VKSTC-V4 ngày 15/8/2025 về việc hướng dẫn nghiệp vụ Điều 256a của Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Khẳng định việc xử lý người sử dụng trái phép chất ma túy phải dựa trên kết luận giám định, test nhanh chỉ là căn cứ ban đầu.

- Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “… Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Tác giả phân tích tình huống trên như sau:

1. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy:

- Kết quả test nước tiểu của Nguyễn Văn A: Âm tính.

- Không có chứng cứ nào khác chứng minh A đang thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực 01/7/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự.

Do đó, không đủ căn cứ để xử lý Nguyễn Văn A theo Điều 256a Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực 01/7/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự.

2. Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy:

- Kết quả giám định kết luận có Methamphetamine nhưng không xác định được khối lượng tối thiểu là 0,1 gam.

- Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy – yêu cầu phải xác định được định lượng từ 0,1 gam Methamphetamine trở lên.

Do đó, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

 3. Về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy:

- Nguyễn Văn A có hành vi tàng trữ 08 nỏ thủy tinh, trong đó 03 nỏ đã bể, 05 nỏ vẫn còn nguyên.

- Nguyễn Văn A khai đây là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, bên trong có dính ma túy. Tuy nhiên, A khai đã dùng từ lâu, sau cai nghiện mới đem ra, hiện không có chứng minh được mục đích A có tiếp tục sử dụng 08 nỏ này chưa. Hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đã qua sử dụng và bị hư hư hỏng có còn coi là “dụng cụ” để xử lý hình sự hay không?

          Hiện còn nhiều quan điểm khác nhau về việc xử lý vụ việc nêu trên, trong đó có 02 quan chính như sau:

- Quan điểm 1: Việc Nguyễn Văn A có hành vi tàng trữ 08 nỏ thủy tinh dạng phễu, A khai mục đích là để sử dụng trái phép chất ma túy, trước đây A đã sử dụng 08 nỏ này vào việc sử dụng ma túy rồi, nên trên các nỏ có dính ma túy, phù hợp với kết luận giám định, nên hành vi của Nguyễn Văn A đã cấu thành tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 254 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy như đã phân tích trên thì Nguyễn Văn A không phạm tội.

Quan điểm 2: Nguyễn Văn A không phạm tội nào, vì: Kết luận giám định ma túy không xác định được khối lượng tối thiểu là 0,1 gam ma túy, loại Methamphetamine, nên không đủ căn cứ để xử lý A về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do kết quả giám định kết luận A âm tính với ma túy, nên hành vi của A không phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực 01/7/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự. Việc A có hành vi tàng trữ 08 nỏ thủy tinh dạng phễu, A khai mục đích là để sử dụng trái phép chất ma túy, trước đây A đã sử dụng 08 nỏ này vào việc sử dụng ma túy rồi, nên trên các nỏ có dính ma túy, phù hợp với kết luận giám định. Tuy nhiên, trong 08 cái nỏ nói trên, đã có 03 cái nỏ bị bể, không còn sử dụng được, Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được A có tiếp tục sử dụng cả 08 cái nỏ này vào việc sử dụng ma túy không (thực tế đã bể 03 cái nỏ). Như vậy, Cơ quan điều tra chỉ chứng minh được Nguyễn Văn A tàng trữ 05 cái nỏ còn nguyên, mục đích là để sử dụng trái phép chất ma túy, nên hành vi của Nguyễn Văn A không phạm vào tội “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, cần áp dụng Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về nguyên tắc suy đoán vô tội, kết luận Nguyễn Văn A không phạm cả 03 tội danh trên.

Quan điểm cá nhân: Tác giả đồng ý với quan điểm thứ 2. Vì cần đặt nguyên tắc suy đoán vô tội lên hàng đầu. Việc xử lý hình sự phải dựa trên chứng cứ chắc chắn, không thể suy diễn để tránh oan, ai và bỏ lọt tội phạm.

Trên đây là quan điểm cá nhân của tác giả. Mong được sự trao đổi góp ý  hoặc phản hồi của quý đồng nghiệp.

 


Trần Trường Duy – KV5 thực hiện

Tin tức khác

  • Dự thảo quy định mới về xử lý nợ xấu liên quan đến nhà ở, công cụ lao động (22/09/2025 12:00)
  • Cần phân biệt hợp đồng vô hiệu và hủy hợp đồng trong giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại (15/09/2025 12:00)
  • Bàn về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với Quyết định, hành vi tố tụng của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra (14/09/2025 12:00)
  • Bàn về việc chuyển vụ việc, vụ án theo thẩm quyền (10/09/2025 12:00)
  • VKSND tỉnh Đồng Tháp ban hành kiến nghị phòng ngừa hướng đến bảo vệ trẻ em trong môi trường giáo dục mầm non (10/09/2025 12:00)
  • Các biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật tư pháp người chưa thành niên (09/09/2025 12:00)
  • Trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị việc dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (09/09/2025 12:00)
  • Quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ hình thức trước ngày 01/01/2017 – áp dụng điều 129 BLDS năm 2015 để giải quyết tranh chấp (09/09/2025 12:00)
  • Bàn về vấn đề phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng đặt cọc (09/09/2025 12:00)
Văn bản chỉ đạo - điều hành
Nghị định 114/2024/NĐ-CP ngày 15/9/2024 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Có hiệu lực kể từ ngày 30/10/2024.
Công khai thực hiện dự toán thu - chi ngân sách Quí I năm 2024
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2023
Tổng hợp thành tích tập thể và cá nhân của các đơn vị từ năm 1999-2023
Quyết định về việc công bố công khai kế hoạch đầu tư vốn Ngân sách Nhà nước năm 2024
Quyết định công bố công khai dự toán chi ngân sách nhà nước 2024
Về việc công bố công khai quyết toán chi ngân sách Nhà nước năm 2022
Hưởng ứng tham gia Cuộc thi ảnh nghệ thuật cấp quốc gia "Tổ quốc bên bờ sóng" lần thứ II
Công khai điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước năm 2023
Quyết định 126/QĐ-TANDTC 2023 Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực của Tòa án nhân dân tối cao
Xem thêm >>
Liên kết

Thống kê lượt truy cập

💬 Trợ lý ảo VKSND tỉnh Đồng Tháp

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Cơ quan chủ quản: Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Đồng Tháp

Người chịu trách nhiệm: Ông Phạm Xuân Minh, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Tháp

Địa chỉ: Số 32 Lê Lợi, Phường Mỹ Tho, Tỉnh Đồng Tháp

Điện thoại: 0273.387.4420- Fax: 0273.3870328