Trong thực tiễn, các tranh chấp liên quan đến việc vợ hoặc chồng vay nợ mà bên còn lại không biết đến ngày càng phổ biến. Vấn đề đặt ra là liệu người còn lại có trách nhiệm liên đới trả nợ hay không?...
= = =
Trong thực tiễn, các tranh chấp liên quan đến việc vợ hoặc chồng vay nợ mà bên còn lại không biết đến ngày càng phổ biến. Vấn đề đặt ra là liệu người còn lại có trách nhiệm liên đới trả nợ hay không? Việc xác định khoản nợ là nợ chung hay nợ riêng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của vợ/chồng, mà còn tác động đến bên cho vay và quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối rõ ràng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, việc xác định tính chất khoản nợ vẫn còn nhiều vướng mắc. Điều này đặt ra câu hỏi pháp lý quan trọng: Trong những trường hợp nào thì vợ/chồng phải liên đới chịu trách nhiệm với khoản nợ do người kia xác lập?
1. Cơ sở pháp lý về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
1.1. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:
“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Điểm đáng chú ý là không phải chỉ những giao dịch do cả hai vợ chồng cùng ký kết mới là nghĩa vụ chung, mà ngay cả khi một bên thực hiện nếu phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình thì cũng được coi là nghĩa vụ chung. Do đó, nợ chung của vợ chồng không nhất thiết là cả hai phải cùng nhau thực hiện giao dịch mà có thể phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng vay nợ để thực hiện những công việc sau thì người còn lại cũng phải liên đới chịu trách nhiệm, cụ thể: Khoản nợ đó nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, ví dụ như nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình như: ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe các thành viên trong gia đình; việc học hành của con cái……; Khoản nợ do một bên vợ (hoặc chồng) là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của người kia để thực hiện giao dịch; Các khoản nợ phát sinh từ những giao dịch dân sự do vợ chồng cùng nhau tiến hành việc thỏa thuận xác lập; Khoản nợ đó nhằm mục đích bồi thường thiệt hại do các hành vi của con chung gây ra mà căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Do hai vợ chồng thỏa thuận thống nhất với nhau về việc cùng nhau thực hiện nghĩa vụ trả nợ; Các nghĩa vụ khác nếu có theo quy định của các luật có liên quan.
Như vậy, nếu khoản nợ đó chỉ đứng tên một mình vợ hoặc chồng nhưng với mục đích nêu trên thì người còn lại cũng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể như sau:
“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”
Ngoài ra, căn cứ quy định tại Điều 60 Luật hôn nhân gia đình dù hai vợ chồng ly hôn mà có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì khoản nợ đó với bên thứ ba vẫn có hiệu lực. Theo đó, cả hai vợ chồng vẫn phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bên thứ ba. Hai bên có thể thỏa thuận cùng với chủ nợ để giải quyết khoản nợ này. Nếu không thỏa thuận được thì khi Tòa án giải quyết sẽ xem đó là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân nên nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đó sẽ chia đôi.
1.2. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng
Điều 45 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng như sau:
“1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.”
Trong các trường hợp này, người thực hiện giao dịch phải tự chịu trách nhiệm trả nợ bằng tài sản riêng hoặc phần tài sản thuộc sở hữu của họ trong khối tài sản chung (nếu có).
2. Phân tích tình huống thực tiễn
Nguyên đơn chị Hà trình bày: Do chị Hà với anh Danh, chị Trân có mối quan hệ quen biết, tháng 7/2022 chị Hà cho anh Danh, chị Trân vay số tiền 05 tỷ đồng (đưa trực tiếp và chuyển khoản vào tài khoản anh Danh), lãi suất 03%/tháng, mục đích vay để kinh doanh mua bán bất động sản, vay không có thế chấp tài sản, tại thời điểm vay tiền anh Danh không có làm biên nhận, nhưng sau đó anh Danh có làm giấy xác nhận nợ vào ngày 18/5/2023 nợ chị Hà số tiền 05 tỷ đồng và cam kết trả nợ cho chị Hà. Do anh Danh, chị Trân không thực hiện trả tiền vay cho chị Hà nên chị Hà khởi kiện yêu cầu anh Danh, chị Trân liên đới trả tiền vay.
Bị đơn là anh Danh trình bày:Thống nhất có nợ tiền của chị Hà và đồng ý trả. Chị Trân (vợ anh Danh) không liên quan đến khoản tiền chị Hà khởi kiện anh Danh.
Bị đơn là chị Trân trình bày: Không đồng ý liên đới trả tiền cho chị Hà, do không biết, không ký tên giấy xác nhận nợ, không sử dụng tiền vay.
Vấn đề đặt ra: Chị Trân có phải chịu trách nhiệm liên đới trả số nợ nêu trên hay không.
Với vụ án đã viện dẫn, xét thấy chứng cứ chị Hà cung cấp là giấy xác nhận nợ do anh Danh ký, không có chữ ký của chị Trân. Chị Hà không chứng minh được giữa chị Trân và anh Danh có sử dụng tiền chung, các giao dịch mua bán của anh Danh thì chị Trân có tham gia giao dịch nào liên quan đến việc vay tiền giữa anh Danh và chị Hà hay không. Đồng thời, chị Hà không cung cấp được chứng cứ chứng minh chị Trân biết khoản tiền chị Hà cho anh Danh vay và không chứng minh được chị Trân có sử dụng khoản tiền anh Danh vay từ chị Hà.

ảnh minh hoạ (nguồn Internet)
Căn cứ vào các quy định pháp luật khi không có bằng chứng cho thấy khoản vay phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình (ăn, mặc, học hành, chữa bệnh…); Không có thỏa thuận hay hành vi đại diện giữa vợ chồng về khoản vay; Không có cơ sở chứng minh chị Trân biết, đồng ý hoặc sử dụng khoản tiền vay.
Do đó, khoản nợ nêu trên mang tính cá nhân của anh Danh, có thể phục vụ mục đích kinh doanh riêng, không liên quan đến chị Trân, nên chị Trân không phải liên đới chịu trách nhiệm.
Mặc dù, pháp luật hiện hành đã phân biệt khá rõ giữa nghĩa vụ tài sản chung và riêng. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử, việc chứng minh mục đích sử dụng tiền vay và sự đồng thuận của bên còn lại là rất khó khăn. Điều này đặt gánh nặng chứng minh lên bên cho vay – vốn thường là bên yếu thế hơn về mặt thông tin.
3. Kiến nghị
- Về lập pháp: Cần có hướng dẫn cụ thể hơn về các tiêu chí xác định “nhu cầu thiết yếu của gia đình” để bảo vệ bên cho vay trong trường hợp hợp lý.
- Về thực tiễn: Vợ chồng nên có biên bản thỏa thuận rõ ràng khi một người vay tiền với mục đích riêng. Người cho vay nên yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ký xác nhận nợ nếu muốn đảm bảo trách nhiệm liên đới.
- Về nhận thức xã hội: Cần nâng cao hiểu biết pháp lý cho người dân về các hệ quả tài chính trong hôn nhân, tránh hiểu lầm rằng “vợ chồng vay nợ thì mặc định là nợ chung”.
Như vậy, việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ hoặc chồng trong quan hệ vay nợ cần dựa trên cơ sở pháp luật chặt chẽ và chứng cứ rõ ràng. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã tương đối đầy đủ trong việc phân định nghĩa vụ tài sản chung – riêng. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, cần sự cẩn trọng từ các bên trong giao dịch và sự chủ động từ phía Tòa án trong việc đánh giá mục đích sử dụng tài sản vay. Bài viết hy vọng góp phần làm rõ hơn vấn đề này, từ đó hỗ trợ giải quyết tranh chấp công bằng, hợp lý trong thực tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
2. Bộ luật Dân sự năm 2015
3. Các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến nghĩa vụ tài sản của vợ/chồng.
Võ Trang thực hiện




